Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Mười hai con giáp và chuyện con mèo

0:000:00

Con bé tuổi Mão. Ai trong nhà cũng thuộc, vì hễ có người hỏi cháu sinh năm nào, bà lại đỡ lời trước: cháu nó tuổi mèo.

Rồi một buổi chiều, trên bàn nước có tấm lịch mà một người bà con vừa mang về từ nước láng giềng. Lịch in mười hai ô, mỗi ô một con vật, xếp đúng cái thứ tự con bé đã thuộc lòng. Ô đầu con chuột. Ô thứ hai con trâu. Ô thứ ba con hổ. Đến ô thứ tư, chỗ đáng lẽ phải là con mèo, lại có một con thỏ ngồi đó, hai tai dựng thẳng lên.

Con bé nhìn rất lâu. Không phải in hỏng. Ô nào cũng sắc nét, giấy còn thơm mùi mực mới. Chỉ có điều ở bên ấy, cái năm con bé ra đời không thuộc về con mèo. Nó thuộc về một con thỏ.

Câu hỏi đó treo lơ lửng suốt bữa cơm tối. Muốn gỡ được nó, phải đi ngược lên rất xa. Xa hơn tấm lịch, xa hơn cả những người đã in ra tấm lịch ấy.

Trước hết, mười hai con giáp không sinh ra để làm tranh treo tường. Chúng sinh ra để đếm.

Người xưa có mười hai cái tên xếp thành một vòng khép kín: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mười hai cái tên ấy gọi là địa chi. Hết Hợi thì quay lại Tý, không bao giờ đứt.

Cái vòng ấy đếm giờ trước khi đếm năm. Một ngày chia làm mười hai khoảng, mỗi khoảng dài bằng hai tiếng đồng hồ bây giờ. Giờ Ngọ là lúc mặt trời đứng bóng, nên tới tận hôm nay ta vẫn gọi giữa trưa là chính ngọ. Giờ Tý là khoảng lặng nhất của đêm, khi gà chưa gáy và ngày cũ vừa kịp hết.

Rồi cái vòng ấy đếm năm. Đây mới là chỗ nó trở nên thân thiết. Bà nội có thể không nhớ ngay mình sinh năm bao nhiêu, nhưng bà nhớ chắc như đinh đóng cột rằng bà tuổi Dần. Ông ngoại tuổi Hợi. Cậu út tuổi Thân. Mười hai con vật là một cách nhớ, giản dị và bền, cho những gia đình mà ngày xưa giấy tờ hiếm hơn ký ức rất nhiều.

Vậy con vật ngồi ở ô thứ tư có từ bao giờ?

Xa lắm. Ở vùng Hồ Bắc, người ta đào lên trong một ngôi mộ cổ hơn một nghìn thanh thẻ tre, chôn xuống đất khoảng hai trăm mười bảy năm trước Công nguyên. Trên những thanh tre nhỏ chỉ bằng ngón tay ấy đã thấy mười hai con thú đi kèm mười hai cái tên chi. Chưa hẳn giống hệt bây giờ, có vài ô còn mang con vật khác, nhưng đủ mười hai thì đã đủ rồi.

Rồi có một cuốn sách tên là Luận Hành, do một người tên Vương Sung viết vào khoảng năm tám mươi. Sách đem từng cái tên chi ra ghép với từng con vật. Tý là con chuột. Dần là con hổ. Ngọ là con ngựa. Và đến chi Mão, sách viết gọn lỏn một câu: Mão là con thỏ.

Nghĩa là con thỏ đã ngồi yên ở ô thứ tư từ gần hai nghìn năm trước. Bí ẩn chẳng những chưa được gỡ, nó còn dày thêm.

Người ta còn kể nhau nghe một truyện vui về cuộc đua qua sông của mười hai con vật để giành thứ tự, nhưng truyện ấy là của đời sau, không có trong những trang sách cũ.

Thế thì con mèo bước vào ô ấy bằng lối nào?

Có mấy cách giải thích. Điều hay là không cách nào bác bỏ cách nào.

Cách thứ nhất nằm ngay trong tiếng nói. Cái chữ chỉ chi thứ tư, đọc theo âm Hán Việt, thành ra Mão. Người lớn tuổi ở nhiều vùng còn đọc là Mẹo. Nói chậm hai tiếng ấy lên thành tiếng mà nghe: Mão, Mẹo. Nó đã đứng sát ngay bên cạnh tiếng gọi con mèo rồi. Một cái tên đi qua bao nhiêu đời truyền miệng, khi gặp đúng con vật mang cái tên nghe giống hệt mình, thì ở lại luôn với con vật ấy.

Cách thứ hai nằm ngoài đồng. Ở xứ trồng lúa nước, con thỏ là kẻ lạ. Không ai nuôi thỏ dưới gầm sàn, không ai gặp thỏ trên bờ ruộng. Còn con mèo thì nằm ngay bậc cửa bếp, quen mặt đến mức đứa trẻ nào trong nhà cũng thuộc chỗ nó hay nằm. Nhà có bồ thóc là phải có mèo, vì chuột đồng thì nhiều vô kể. Trong một vòng mười hai con vật dựng lên để người làm ruộng nhớ tuổi mình, con vật giữ thóc đứng vững hơn con vật chỉ nghe kể.

Cách thứ ba là chuyện của chính cái vòng. Vòng ấy mở đầu bằng con chuột. Đặt con mèo vào ô thứ tư, thế là trong mười hai con vật có đủ cả chuột lẫn mèo, lại có cả mèo lẫn chó. Ba con vật quen mặt nhất trong một cái sân quê. Cái vòng đếm năm bỗng trông y hệt cái sân nhà mình.

Chẳng ai chứng minh được cách nào đúng hơn cách nào. Nhiều phần là cả ba cùng đúng một lúc, mỗi cách góp một phần.

Mà con mèo cũng không phải chỗ khác biệt duy nhất đâu, cả nhà.

Nhìn lại ô thứ hai mà xem. Ở đây, Sửu là con trâu. Con vật đầm mình dưới bùn ngoài ruộng, sáng nào cũng lầm lũi đi trước cái cày, sừng cong như hai vành trăng non. Ở nhiều nơi khác trong vùng, con vật đứng ở ô ấy lại là con bò.

Thành ra cái vòng mười hai không phải một tờ danh sách chép nguyên từ nơi này sang nơi khác. Nó giống một cái khung đếm thời gian mà cả một vùng đất rộng lớn cùng dùng chung, rồi mỗi xứ treo vào khung ấy những con vật sống ngay cạnh mình. Xứ nào quen mặt con thỏ thì ô thứ tư là con thỏ. Xứ nào nhà nào cũng có mèo canh bồ thóc thì ô thứ tư là con mèo. Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, ô ấy vẫn là con thỏ. Cùng một vòng mười hai, cùng một cách gọi tuổi, chỉ khác con vật đứng ở một ô.

Tối hôm ấy, con bé quay lại bàn nước, ngồi xuống trước tấm lịch, và không hỏi nữa.

Nó biết rồi. Một bạn nhỏ sinh cùng năm với nó ở bên kia sẽ nói mình tuổi thỏ, và nói vậy là đúng. Còn nó vẫn là tuổi mèo, và nói vậy cũng đúng. Hai con vật, một ô, một tuổi, không ai phải nhường ai.

Dưới chân bàn, con mèo nhà cuộn tròn ngủ cạnh bồ thóc, đuôi vắt lên mũi, chẳng hay biết gì về gần hai nghìn năm vừa đi ngang qua đầu mình. Nó chỉ đang làm đúng cái việc đã đưa nó vào vòng mười hai. Nằm canh chỗ để gạo, và đợi một tiếng chuột sột soạt trong đêm.

Câu chuyện gần đây