Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Chữ Nôm, thứ chữ cha ông tự làm ra

0:000:00

Trong sân một ngôi chùa ở thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, có một con rùa đá nằm phủ phục giữa nắng. Mai rùa nhẵn thín. Đầu nó ngẩng lên. Bốn chân xòe ra bám chặt xuống nền sân.

Trên lưng con rùa ấy là một tấm bia đá, cao chừng một mét tư, rộng non một mét, dày hơn một tấc.

Tấm bia khắc chữ cả hai mặt. Năm mươi dòng. Một nghìn bốn trăm chín mươi tám chữ. Nét chữ khắc sâu, đẹp theo lối thời Lý, và quanh mép bia không có lấy một đường hoa văn trang trí nào. Người xưa dựng tấm bia này không định làm cho nó đẹp. Họ định làm cho nó đọc được.

Gần hết những chữ trên đá là chữ Hán. Nhưng lẫn vào giữa, rải rác đây đó, có mấy chữ trông là lạ.

Nhìn qua thì chúng vẫn ra dáng chữ Hán. Vẫn những nét ngang nét sổ ấy, vẫn những mảnh quen thuộc ấy. Nhưng ghép lại thì không còn là chữ Hán nữa. Một người đọc thông chữ Hán, đọc tới đó, sẽ khựng lại đúng một nhịp.

Mấy chữ ấy ghi tên đất: đồng Hấp, Đồng Chài, Đường Sơn, Đồng Nhe. Và ghi tên mấy người trong làng.

Đó là những chữ Nôm sớm nhất mà chúng ta còn giữ được. Không phải một câu thơ. Không phải một lời tuyên bố. Chỉ là mấy cái tên ruộng.

Chuyện xảy ra thế này.

Chữ Hán đã ở trên đất này từ rất lâu đời. Cha ông mình đọc nó, viết nó, chép sổ sách bằng nó, làm thơ bằng nó, đời này qua đời khác, thuộc nó như thuộc lòng bàn tay.

Chữ Hán là một thứ chữ đẹp và đầy đủ. Đầy đủ cho đúng thứ tiếng nói mà nó sinh ra để ghi. Nhưng tiếng Việt lại là một tiếng nói khác, với những âm khác, những chữ khác, những cái tên khác.

Và người thợ khắc bia hôm ấy vấp phải đúng chỗ khác nhau đó.

Ông có việc phải khắc lên đá danh sách ruộng đất mà một vị họ Nguyễn vừa cúng cho chùa, hơn trăm mẫu ruộng cùng hơn hai nghìn quan tiền. Muốn ghi cho đúng thì phải ghi rõ từng thửa. Mà thửa ruộng ấy, cả làng gọi nó là đồng Nhe.

Nhe. Chỉ một tiếng thôi.

Trong kho chữ Hán mênh mông, không có chữ nào đọc lên thành tiếng Nhe. Không phải vì thiếu sót. Chỉ vì đó là một tiếng của làng này, do người làng này đặt cho mảnh ruộng của họ, và chưa từng có ai trên đời cần viết nó ra bao giờ.

Người thợ khắc có thể bỏ qua. Có thể ghi đại một cái tên khác cho xong.

Nhưng trên tấm đá ấy, cái tên Nhe vẫn được ghi lại đàng hoàng, bằng một con chữ không hề có trong kho chữ Hán. Nghĩa là trước đó đã có người nghĩ ra cách làm ra những con chữ như thế. Nghĩa là ở đâu đó trong những ngôi làng này, đã có người làm một việc rất táo bạo: lấy chính vật liệu mình học được mà chế ra chữ của riêng mình.

Cách chế chữ ấy về sau thành cả một nghề, và nó khéo đến mức bây giờ nghĩ lại vẫn thấy thích.

Có những tiếng mà chữ Hán vốn đã có sẵn, thì cứ mượn nguyên con chữ về dùng, như tiếng ông, tiếng bà. Có những tiếng thì mượn con chữ nhưng đọc chệch đi một chút cho hợp giọng mình. Còn khi không mượn được nữa, thì đến phép hay nhất: lấy hai con chữ Hán ghép lại làm một, một nửa mách cho người đọc biết chữ này đọc thế nào, nửa kia mách cho biết chữ này nghĩa là gì.

Cả nhà hình dung thế này. Người xưa lấy chữ thiên, nghĩa là trời, đặt cạnh chữ thượng, nghĩa là ở trên. Hai mảnh ghép vào nhau thành một con chữ mới, và con chữ ấy nói với người đọc rất rõ ràng: cái ở trên cao kia, cái ấy là trời.

Mắt nhìn thấy hai chữ cũ. Miệng đọc lên một tiếng Việt.

Cứ như vậy, từng chữ một, tiếng nói hằng ngày của người mình dần dần có chỗ đặt chân trên giấy và trên đá. Tiếng gọi con. Tiếng gọi mẹ. Tên một con suối. Tên một cánh đồng. Những tiếng mà trước đó chỉ sống trong miệng, nay có thể nằm lại được.

Tấm bia trong sân chùa Phúc Yên mang niên đại tháng chạp năm Trị Bình Long Ứng thứ năm, tức là năm một nghìn hai trăm lẻ chín. Nó là hiện vật mang niên đại sớm nhất của cả tỉnh Vĩnh Phúc. Và trên toàn cõi nước mình, bia đá thời Lý còn lại tới hôm nay chỉ vỏn vẹn mười tám tấm. Tấm bia này là một trong mười tám tấm ấy.

Từ mấy cái tên ruộng trên đá đó, thứ chữ mới cứ lớn dần lên.

Đến thế kỷ mười lăm, Nguyễn Trãi ngồi viết Quốc âm thi tập, hai trăm năm mươi bốn bài thơ bằng chữ Nôm, tập thơ Nôm cổ nhất mà đến giờ ta còn giữ được. Ông không viết về những điều xa xôi. Thơ Nôm của ông tựa vào những hình ảnh rất gần với đời sống thường ngày, thứ đời sống ông nhìn thấy quanh mình, gọi tên bằng đúng những tiếng ông vẫn nói.

Rồi có một người phụ nữ làm thơ đến mức người đời sau phải gọi bà là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương viết bằng thứ chữ ấy, sắc sảo và tinh nghịch, và ngày hai mươi ba tháng mười một năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, UNESCO đã vinh danh bà. Thơ bà giờ đã được dịch ra mười ba thứ tiếng.

Rồi Nguyễn Du ngồi xuống viết Truyện Kiều. Ba nghìn hai trăm năm mươi bốn câu lục bát. Từng câu, từng chữ, đều là chữ Nôm.

Trăm năm trong cõi người ta. Câu ấy, khi Nguyễn Du đặt bút, là một hàng chữ Nôm trên giấy. Cùng một loại chữ mà người thợ khắc bia ngày xưa đã dùng để ghi tên đồng Nhe.

Ngày nay, trên khắp thế giới, số nhà nghiên cứu đọc thông được chữ Nôm chưa tới một trăm người. Nghe thì tiếc. Nhưng thứ chữ ấy vẫn còn nguyên đó, chờ người tới đọc, và có một nơi cả nhà có thể tới nhìn tận mắt.

Ở chùa Vĩnh Nghiêm còn giữ được một kho mộc bản, ba nghìn không trăm năm mươi tấm ván rời, chín đầu sách. Ván làm bằng gỗ thị, thứ gỗ trắng, mịn, dẻo, dễ khắc mà lại bền. Chữ khắc ngược trên mặt gỗ, chữ Hán có, chữ Nôm có, để bôi mực lên là in ra được thành trang sách. Năm hai nghìn không trăm mười hai, UNESCO ghi danh kho mộc bản này là di sản tư liệu của cả khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Đứng trước những tấm ván ấy, nếu nhìn kỹ, người ta sẽ lại gặp đúng những con chữ ghép đôi kia. Một nửa mách âm, một nửa mách nghĩa. Vẫn đúng cái cách đã được dùng để viết chữ Nhe lên tấm bia trong sân chùa, từ trước đó rất lâu.

Còn tấm bia thì vẫn nằm nguyên ở đấy, trên lưng con rùa đá, trong sân ngôi chùa nhỏ. Mưa nắng đã bao nhiêu đời. Rêu bám vào những nét khắc sâu. Nhưng nếu cúi xuống thật gần và biết chỗ mà tìm, giữa những dòng chữ Hán ngay ngắn, vẫn thấy mấy con chữ hơi lạ ấy nằm im.

Tên một cánh đồng. Do những người nhà quê đặt ra, và được những người yêu tiếng nói của mình đủ nhiều để nghĩ cho ra cách viết nó xuống đá.

Câu chuyện gần đây