Biệt điện Bảo Đại
Cả nhà hãy hình dung một tòa nhà mang nhiều tên khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử mà không thay đổi bản chất của mình. Biệt điện Bảo Đại ở Buôn Ma Thuột là một ví dụ điển hình. Cùng một mảnh đất, cùng một tòa nhà, nhưng qua gần một trăm hai mươi năm, nơi đây đã khoác biết bao bộ mặt. Từ nhà hàng người Pháp, công sở của công sứ, nơi làm việc của vị vua cuối cùng triều Nguyễn, rồi đến trụ sở Hội đồng cố vấn cách mạng. Và cuối cùng nó là một di tích quốc gia nằm trong khuôn viên của Bảo tàng Đắk Lắk.
Lớp đầu tiên bắt đầu trước năm một nghìn chín trăm linh năm, khi khu vực còn là nhà hàng Maison Lefévre. Năm một nghìn chín trăm mười bốn, Công sứ Sabatier chọn nơi này để xây Tòa Đại lý Quận trưởng. Năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu, Công sứ Giran cải tạo thành Tòa Công sứ. Người Êđê địa phương gọi nơi đó là Sang Ae Prong, nghĩa là nhà ông lớn. Đó là cách gọi gắn với cảm nhận về quyền lực của người bản địa, chứ không phải tên chính thức.
Năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, ngay trong khuôn viên tòa nhà này đã xảy ra một sự kiện đáng nhớ. Một nhóm trí thức người dân tộc thiểu số do thầy giáo Y Jút lãnh đạo đã bao vây và tấn công Tòa Công sứ để phản đối Công sứ Sabatier. Đây là một trong những hành động chống thực dân sớm của người bản địa Tây Nguyên.
Cái tên Biệt điện Bảo Đại gắn với giai đoạn sau. Bảo Đại trở lại Việt Nam với danh nghĩa Quốc trưởng. Từ tháng mười một năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy đến khoảng tháng năm năm một nghìn chín trăm bốn mươi tám, ông làm việc tại khu vực này gần tám tháng. Trong các năm từ một nghìn chín trăm bốn mươi chín đến một nghìn chín trăm năm mươi tư, ông thường đến đây nghỉ ngơi và săn bắn vào đầu mùa mưa. Đó là nguồn gốc của cái tên vẫn theo nơi này, dù nó đã qua nhiều lần đổi tên hành chính.
Sau ngày hai mươi tư tháng tám năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, tòa nhà trở thành trụ sở Hội đồng cố vấn cách mạng tỉnh. Tháng mười năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, nơi đây diễn ra hội chợ triển lãm và Lễ ăn thề đoàn kết các dân tộc Êđê, Kinh, M'nông, Gia Rai. Ngày mùng một tháng mười hai năm đó có cuộc họp bàn về bầu cử Quốc hội khóa một. Sau năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, đây là trụ sở đầu tiên của Tỉnh ủy Đắk Lắk. Nhiều lãnh đạo cấp cao từng đến đây công tác, trong đó có Tổng Bí thư Lê Duẩn vào tháng tư năm một nghìn chín trăm bảy mươi tám.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, di tích được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia. Năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức đổi tên di tích thành Di tích lịch sử Biệt điện Bảo Đại. Cái tên này thay cho tên cũ là Di tích lịch sử số bốn Nguyễn Du, vốn chỉ là cách gọi theo địa chỉ đường phố ngày trước.
Bước tới gần, cả nhà sẽ thấy tòa biệt điện có diện tích xây dựng một nghìn năm trăm mười bốn mét vuông, đặt trên một cồn đất nhân tạo cao hơn mặt sân gần hai mét. Dáng dấp của nó kết hợp kiến trúc nhà dài Êđê với kiến trúc phương Tây. Đây là điều hiếm gặp trong di sản kiến trúc của Tây Nguyên. Một công trình của bộ máy thuộc địa, nhưng lại tham chiếu hình thức nhà ở truyền thống của người bản địa.
Trong sân vườn rộng gần sáu phẩy năm héc ta, điểm đáng dừng chân là cây long não bên phải cổng vào. Cây được trồng năm một nghìn chín trăm ba mươi, nay cao gần ba mươi mét, thân to với đường kính khoảng hai phẩy năm mét. Năm hai nghìn không trăm mười bốn, cây được gắn biển Cây di sản Việt Nam. Đây là một cái cây còn già hơn cả cái tên Biệt điện Bảo Đại của nơi này.
Biệt điện Bảo Đại ở Buôn Ma Thuột là nơi để đọc lịch sử theo nhiều lớp chồng lên nhau. Lịch sử thuộc địa, lịch sử kháng cự, lịch sử của vị vua cuối cùng, và lịch sử của một vùng đất vẫn đang viết tiếp câu chuyện của mình. Bước vào khuôn viên xanh đó, dưới bóng cây long não gần một trăm năm tuổi, cả nhà không chỉ đang ngắm một tòa nhà. Cả nhà đang đứng ngay điểm giao nhau của nhiều câu chuyện chưa bao giờ kết thúc gọn gàng.