Bồ Tát Phổ Hiền
Một buổi chiều, một cậu bé theo bà vào chùa lễ Phật. Đi ngang qua chính điện, cậu bỗng dừng sững lại. Bên cạnh một pho tượng Bồ Tát hiền từ, có một con voi trắng to lớn, lưng cong xuống như đang quỳ, những chiếc ngà dài cong vút. Cậu chưa từng thấy voi trong chùa bao giờ. Cậu níu tay bà, hỏi khẽ. Bà ơi, sao trong chùa lại có voi thế hả bà.
Bà cụ mỉm cười, kéo cháu ngồi xuống bậc thềm mát. Để bà kể cho cháu nghe. Con voi trắng này đặc biệt lắm. Cháu thử đếm xem nó có mấy chiếc ngà nào. Cậu bé nhẩm đếm rồi reo lên. Nhiều ngà quá bà ơi, những sáu chiếc cơ. Bà cụ gật đầu. Đúng rồi, voi trắng sáu ngà. Và người ngồi trên lưng nó là Bồ Tát Phổ Hiền.
Theo trang Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, voi trắng là loài vật khỏe nhất mà cũng hiền nhất. Nó chở nặng, đi xa, mà không hề mỏi. Màu trắng của nó là màu của sự trong sạch. Người xưa lấy con voi ấy để nói về một đức tính rất đẹp, đó là sự bền bỉ trong việc làm điều lành. Còn sáu chiếc ngà thì sao hả bà, cậu bé hỏi. Bà cụ đáp, sáu chiếc ngà nhắc ta nhớ sáu điều một người tốt nên gắng làm. Đó là biết cho đi, biết giữ mình, biết kiên nhẫn và biết cố gắng. Là biết lắng lòng và biết nhìn cho sáng.
Cậu bé ngẩng nhìn vị Bồ Tát ngồi trên lưng voi. Thế Bồ Tát Phổ Hiền là ai hả bà. Bà cụ nói chậm rãi. Trong nhà Phật có nhiều vị Bồ Tát, mỗi vị giúp ta một điều. Bồ Tát Phổ Hiền là vị của hành động, cháu ạ. Theo báo Giác Ngộ, người ta nói Phổ Hiền chính là hành động, là dấn thân vào đời mà làm điều tốt. Ngài cưỡi voi trắng đi khắp mọi nơi, không phải để dạo chơi, mà để thực hành điều lành ở bất cứ chốn nào Ngài đến.
Bà chỉ tay lên ba pho tượng đứng cạnh nhau. Cháu nhìn xem. Ở giữa là Đức Phật. Một bên là Bồ Tát Văn Thù cưỡi con sư tử xanh, một bên là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi con voi trắng. Ba vị ấy đứng chung gọi là Hoa Nghiêm Tam Thánh. Văn Thù là trí tuệ, là cái biết nhìn cho rõ. Còn Phổ Hiền là hành động, là cái biết bắt tay vào làm. Cháu thấy không, biết mà không làm thì cái biết ấy chỉ nằm yên một chỗ. Phải có cả hai, vừa nhìn cho sáng vừa làm cho bền, mới thành con đường tốt đẹp.
Cậu bé ngồi nghe, mắt mở to. Vậy Bồ Tát Phổ Hiền làm những gì hả bà. Bà cụ ôm cháu vào lòng. Ngài có mười lời nguyện lớn, ghi trong một cuốn kinh tên là Kinh Hoa Nghiêm. Mười lời nguyện ấy không phải để đọc cho thuộc, mà là mười việc làm mỗi ngày. Bà kể cháu nghe vài điều nhé.
Điều thứ nhất, Ngài nguyện cúi đầu kính lễ trước mọi điều tốt lành. Nghĩa là đi đến đâu, gặp ai, Ngài cũng nhìn ra cái hay, cái thiện ở người ấy mà trân trọng. Như cháu vậy, nếu cháu tập nhìn ra điểm tốt của bạn bè, của mọi người quanh mình, thì lòng cháu sẽ rộng ra, ấm lên.
Rồi bà kể tiếp. Có một lời nguyện bà thích lắm, là thấy người khác làm được việc tốt thì mình mừng theo. Cháu thử nghĩ xem, nếu bạn cháu được điểm cao, cháu vui cho bạn, thì niềm vui ấy thành hai phần. Còn nếu cháu ganh tị, thì cháu tự làm khổ mình. Bồ Tát Phổ Hiền dạy ta mừng cho cái hay của người khác, như thể đó là cái hay của chính mình.
Cậu bé gật gù. Còn nữa không bà. Bà cụ cười hiền. Còn chứ. Lời nguyện cuối cùng đẹp nhất. Ngài nguyện rằng làm được bao nhiêu điều tốt, Ngài đem gửi tặng hết cho tất cả mọi người, không giữ lại chút nào cho riêng mình. Cháu thấy lạ không. Người đời thường muốn giữ phần hơn về mình, còn Ngài thì cho đi tất cả. Vì Ngài tin rằng, điều lành đem chia sẻ thì không vơi đi, mà còn lớn thêm mãi.
Cậu bé ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi. Bà ơi, sao phải có nguyện hả bà. Cứ làm việc tốt là được rồi mà. Bà cụ xoa đầu cháu. Câu hỏi hay lắm. Cháu cứ hình dung một dòng sông. Nước nhiều mà không có hướng chảy thì chỉ thành vũng nước tù. Lời nguyện cũng như cái hướng cho dòng sông ấy. Có nguyện, việc làm của ta mới có đích đến, mới bền, mới đi được thật xa. Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi đi khắp nơi cũng nhờ có mười lời nguyện ấy dẫn đường.
Cậu bé lại hỏi. Thế Ngài khác với các vị Bồ Tát kia thế nào hả bà. Bà cụ thong thả đáp. Mỗi vị một vẻ, cháu ạ. Quan Âm là lòng thương, nghe tiếng ai khổ là tới. Văn Thù là trí sáng, nhìn thấu mọi điều rối ren. Địa Tạng là lời thề bền gan, vào tận chốn tối tăm để cứu người. Còn Phổ Hiền, cháu ạ, là bàn tay cứ làm, làm mãi điều lành, không ngừng nghỉ. Bốn vị hợp lại thành bốn vị đại Bồ Tát mà người mình kính thờ trong các chùa.
Bà kể thêm. Người ta tin rằng Bồ Tát Phổ Hiền có một ngọn núi thiêng gắn liền với Ngài, gọi là Nga Mi Sơn, bên Trung Hoa. Tương truyền Ngài cưỡi voi trắng từ phương xa tới đó mà lưu lại. Ngọn núi ấy là một trong những chốn thiêng cổ xưa nhất của nhà Phật, và từng được thế giới ghi nhận là di sản chung của loài người vào năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu. Người tu hành bao đời vẫn tìm về đó, mong học được cái hạnh siêng năng, bền bỉ của Ngài.
Cuối cùng, bà nắm tay cháu, nói nhỏ. Cháu thấy không, ở chùa nào của mình cũng có tượng Bồ Tát Phổ Hiền. Mỗi lần các bác, các cô tụng mười lời nguyện của Ngài, là mỗi lần nhắc nhau một điều giản dị. Thương người thì chưa đủ, biết điều hay thì cũng chưa đủ. Phải bắt tay vào làm. Một việc tốt nhỏ làm mỗi ngày còn quý hơn ngàn lời nói hay mà để đó.
Cậu bé đứng dậy, ngẩng lên nhìn con voi trắng một lần nữa, lần này thật lâu. Bây giờ cậu không còn thấy đó chỉ là một con voi bằng đá nữa. Cậu thấy một vị Bồ Tát đang lặng lẽ lên đường, đi khắp gần xa, tay vẫn làm điều lành, lòng vẫn gửi tặng cho người. Và cậu khẽ nghĩ, mai về nhà, mình cũng sẽ làm một việc tốt thật nhỏ thôi, để bắt đầu bước đi của riêng mình.