Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi
Chiều cuối tuần trước kỳ thi, một cậu bé theo bà lên chùa. Sách vở trong đầu cậu cứ rối tung, học mãi mà vẫn thấy lo. Đứng trước chính điện, cậu chợt khựng lại trước một pho tượng lạ. Vị Bồ Tát trẻ ngồi trên lưng một con sư tử, tay phải giơ cao một thanh kiếm như đang bốc lửa. Cậu níu tay bà, hỏi khẽ. Bà ơi, sao Phật lại cầm kiếm thế hả bà.
Bà cụ mỉm cười, kéo cháu ngồi xuống bậc thềm mát. Để bà kể cho cháu nghe. Người cầm kiếm kia là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Theo trang Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài là vị Bồ Tát của trí tuệ, đứng đầu trong hàng các Bồ Tát.
Cháu nhìn cho kỹ nhé. Ngài ngồi trên lưng một con sư tử xanh. Sư tử là chúa của muôn loài trong rừng, mạnh mẽ và uy nghi. Người xưa lấy sư tử để nói về sức mạnh của trí tuệ, một sức mạnh có thể chế ngự mọi rối ren trong lòng người.
Còn tay trái của Ngài, cháu thấy không, đang nâng một bông sen xanh đỡ lấy một cuốn kinh. Đó là Kinh Bát Nhã, cuốn kinh của trí tuệ. Bông sen mọc lên từ bùn mà vẫn thơm sạch, cũng như người có trí tuệ sống giữa đời mà lòng vẫn trong.
Cậu bé chỉ tay lên thanh kiếm, vẫn còn ngại. Nhưng kiếm thì để làm gì hả bà. Bà cụ nắm tay cháu, nói chậm rãi. Đây không phải cây kiếm để đánh nhau đâu cháu. Đây là kiếm Trí Tuệ. Trong lòng mỗi người có một thứ bóng tối gọi là vô minh, nghĩa là sự mê muội, là khi mình không nhìn ra được điều đúng sai, cứ rối bời và sợ hãi. Thanh kiếm của Ngài là để cắt đứt cái mê muội ấy, chứ không cắt một ai cả. Theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, kiếm sáng ấy chặt tan vô minh và phiền não, như một tia chớp xé qua màn đêm.
Cậu bé nghe mà mắt sáng lên. Vậy ra kẻ thù thật không phải là người nào, mà là sự mê muội trong chính mình. Bà cụ gật đầu. Đúng rồi cháu. Người có trí tuệ là người dám nhìn thẳng vào chỗ rối ren và thấy cho rõ.
Rồi bà kể cho cháu nghe một câu chuyện trong Kinh Duy Ma Cật. Cháu nhớ nhé, đây là chuyện trong kinh sách nhà Phật, người mình tụng đọc và quý lắm.
Ngày xưa, ở một thành nọ, có một bác cư sĩ tên là Duy Ma Cật. Bác không phải nhà sư, chỉ là người thường sống giữa phố chợ, nhưng trí tuệ thì sâu thẳm, lời nói thì sắc bén, ai gặp cũng nể. Một hôm bác lâm bệnh. Đức Phật muốn cử người đến thăm hỏi bác.
Nhưng lạ thay, Phật hỏi đến ai, người ấy cũng xin thưa rằng mình không dám đi. Bởi trước kia, mỗi lần trò chuyện, bác Duy Ma Cật đã hỏi những câu khó đến mức các vị đều lúng túng, không biết đáp sao cho thấu. Cả những vị đệ tử lớn, cả các Bồ Tát, ai cũng ngại đối đáp với một người trí tuệ đến thế.
Cậu bé hồi hộp. Thế rồi sao hả bà. Có ai dám đi không. Bà cụ cười hiền. Có chứ cháu. Chỉ một mình Bồ Tát Văn Thù đứng ra nhận lời. Theo báo Giác Ngộ, Ngài là vị duy nhất đủ trí tuệ để đến thăm và đối đáp với bác Duy Ma Cật. Khi nghe tin hai bậc trí tuệ sắp gặp nhau, có tới tám nghìn vị Bồ Tát và năm trăm vị Thanh Văn cùng đi theo, vì ai cũng muốn được nghe.
Cuộc gặp hôm ấy quả là một cuộc gặp lớn. Hai bên bàn về một điều rất sâu, mà nhà Phật gọi là pháp môn bất nhị, nghĩa là cánh cửa vượt lên khỏi mọi sự hơn thua, đúng sai, được mất.
Các vị Bồ Tát có mặt thay nhau trả lời, mỗi người một cách thật hay. Đến lượt mình, Văn Thù nói rằng, đối với mọi điều mà không bàn, không nói, không chỉ, lìa hết mọi câu hỏi câu đáp, đó mới thật là vào được cánh cửa ấy. Rồi Ngài quay sang hỏi bác Duy Ma Cật.
Và cháu có biết bác trả lời thế nào không. Cậu bé lắc đầu, nín thở. Bà cụ hạ giọng. Bác Duy Ma Cật không nói một lời nào cả. Bác chỉ ngồi im lặng.
Cậu bé ngỡ ngàng. Im lặng thôi ạ. Thế là thắng sao. Bà cụ gật đầu, ánh mắt vui. Chính sự im lặng ấy mới là câu trả lời cao nhất cháu ạ. Theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Văn Thù liền khen, lành thay, lành thay, cho đến chỗ không còn lời nói chữ nghĩa nào nữa, đó mới thật là vào pháp môn bất nhị. Có những điều sâu quá, lớn quá, lời nói không sao chứa nổi. Khi ấy, im lặng lại nói được nhiều hơn ngàn lời.
Cậu bé ngồi lặng đi một lúc, như đang thấm. Bà cụ lại kể tiếp. Người ta tin rằng Bồ Tát Văn Thù có một ngọn núi thiêng gắn liền với Ngài. Đó là Ngũ Đài Sơn bên Trung Hoa, một ngọn núi có năm đỉnh bằng phẳng, từng được thế giới ghi nhận là di sản chung của loài người vào năm hai nghìn lẻ chín. Bao đời nay, người tu hành vẫn tìm về đó, mong học được cái nhìn sáng suốt như Ngài.
Cuối cùng, bà nắm tay cháu, nói nhỏ. Cháu sắp thi rồi. Ở mình, các anh chị học trò vẫn hay lên chùa cầu Bồ Tát Văn Thù trước ngày thi, xin cho đầu óc sáng suốt. Nhưng cháu nhớ điều này. Trí tuệ không phải là thuộc thật nhiều, biết thật nhiều. Trí tuệ là biết nhìn cho rõ giữa lúc rối ren, như lưỡi kiếm kia cắt qua sương mù.
Học bài chăm chỉ là một cách chuẩn bị. Còn tập cho lòng mình bình tĩnh để nhìn mọi việc cho sáng, lại là một cách chuẩn bị khác. Cả hai đều quý, cháu ạ.
Cậu bé đứng dậy, ngẩng lên nhìn pho tượng một lần nữa, lần này thật lâu. Thanh kiếm vẫn rực sáng trong tay vị Bồ Tát, không còn đáng sợ chút nào. Cậu bỗng thấy lòng mình nhẹ hẳn, như có ai vừa vén giúp một làn sương. Và cậu biết, ngày mai bước vào phòng thi, cậu sẽ mang theo không chỉ những trang sách, mà cả lưỡi kiếm sáng ấy trong lòng.