Chuyen.AIPlaylist
Ấn Độ

Phật A Di Đà

0:000:00

Chiều xuống. Ngoài sân, nắng đã ngả vàng trên giậu mồng tơi. Trong nhà, bà ngồi bên cửa, lưng hơi còng, hai bàn tay chắp lại trước ngực. Bà khẽ niệm, đều đều như hơi thở: Nam Mô A Di Đà Phật. Đứa cháu nhỏ ngồi cạnh nghe mãi, rồi rụt rè hỏi. Bà ơi, A Di Đà là ai mà chiều nào bà cũng gọi tên.

Bà mỉm cười, kéo cháu lại gần, và bắt đầu kể.

A Di Đà là một vị Phật, cháu ạ. Cái tên ấy không phải tên thường. Theo trang Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. Vô Lượng Quang là ánh sáng nhiều đến không đo đếm được. Vô Lượng Thọ là thọ mạng dài đến không cùng. Nói gọn lại, đó là một vị Phật của ánh sáng không bao giờ tắt, và của sự sống không bao giờ hết.

Đứa cháu tròn mắt. Vậy Ngài có từ bao giờ, hả bà.

Bà kể, theo kinh sách nhà Phật, từ rất xa xưa, xa đến mức không tính nổi bằng năm tháng đời người. Khi ấy có một vị vốn là bậc vương giả, quyền quý đủ đầy. Vậy mà ông rời bỏ ngôi cao, đi tu, lấy tên là Tỳ Kheo Pháp Tạng. Cháu nhớ nhé, đây là chuyện trong kinh điển, người mình tin và kể lại đã bao đời.

Ông Pháp Tạng tu hành, lòng chỉ đau đáu một điều: làm sao cho hết thảy chúng sinh đang khổ đều có một nơi để được an vui. Thế là ông đứng trước một vị Phật thuở đó, chắp tay, và phát ra một lời hứa lớn vô cùng.

Lời hứa ấy gồm bốn mươi tám điều nguyện. Theo trang Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ông nguyện độ khắp mười phương chúng sinh, không bỏ sót một ai. Và ông thề một câu khiến đất trời phải lặng nghe: nếu chỉ cần một nguyện trong bốn mươi tám nguyện ấy chưa trọn vẹn, thì ông quyết chẳng chịu thành Phật.

Cháu thử nghĩ mà xem, bà nói. Người ta thường mong cho riêng mình. Còn ông Pháp Tạng thì đặt cả bốn mươi tám lời nguyện ấy lên vai, chỉ để mở một con đường cho người khác. Ông tự buộc mình: chừng nào còn một chúng sinh chưa được cứu, thì ông còn chưa thành.

Trong bốn mươi tám nguyện ấy, có một nguyện gần gũi với người mình nhất. Đó là nguyện thứ mười tám. Theo kinh điển, Ngài nguyện rằng: bất cứ ai ở mười phương, hễ thành tâm tin tưởng, mong được về cõi của Ngài, chỉ cần niệm tên Ngài cho đến mười lần thôi, thì sẽ được đón về. Chỉ cần một tấm lòng thành và một câu niệm.

Và bà bảo, đó chính là câu mà chiều nào bà cũng gọi. Nam Mô A Di Đà Phật. Người lớn niệm, người già niệm, em bé cũng niệm theo được. Câu ấy ngắn, dễ nhớ, mà chứa cả một lời nguyện lớn.

Rồi ông Pháp Tạng đã hoàn thành cả bốn mươi tám nguyện. Ông thành Phật, hiệu là A Di Đà. Và đúng như đã hứa, Ngài lập nên một cõi để đón chúng sinh. Cõi ấy tên là Tây Phương Cực Lạc.

Đứa cháu ghé sát hơn. Cõi ấy trông ra sao, hả bà.

Bà ngừng một lát, như đang nhìn về một nơi rất xa. Theo kinh sách, đó là một cõi của ánh sáng. Đất ánh lên sắc vàng. Có những hồ nước trong veo, mặt hồ nở đầy hoa sen đủ màu, mỗi đóa lại tỏa một thứ ánh sáng riêng. Quanh hồ là những hàng cây kết bằng châu báu. Gió thổi qua kẽ lá, chim hót trên cành, mà tiếng nào cũng như đang nhắc người ta nhớ tới điều lành.

Nhưng cháu nhớ điều này cho kỹ, bà dặn. Cõi ấy đẹp không phải để khoe vàng khoe ngọc. Cái quý nhất ở đó là không còn khổ. Không còn cái già làm mỏi, cái bệnh làm đau, cái chết làm sợ. Người về tới đó là về tới chỗ thảnh thơi trong lòng. Tây Phương Cực Lạc là một cõi bình an của tâm, chứ không phải một chốn giàu sang.

Và Ngài không đứng một mình nơi cõi ấy. Theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bên Phật A Di Đà có hai vị Bồ Tát lớn. Một bên là Mẹ Quan Âm, tức Bồ Tát Quán Thế Âm. Một bên là Bồ Tát Đại Thế Chí. Ba vị đứng cùng nhau, người mình gọi là Tây Phương Tam Thánh. Ba tấm lòng từ bi cùng cúi xuống, cùng dang tay đón những ai tìm về.

Cháu thấy không, bà nói, chuyện nghe xa vời vậy mà thật ra ở ngay quanh mình. Theo Báo Giác Ngộ, niệm Phật là một trong những lối tu lâu đời và gần gũi nhất của người Phật tử Việt. Pháp môn ấy hợp với tất cả mọi người, không kể già trẻ sang hèn. Bởi ai cũng niệm được một câu Nam Mô A Di Đà Phật.

Thế nên ở quê mình, gần như chùa nào cũng có một ban thờ Phật A Di Đà. Buổi sớm, buổi chiều, trong khói nhang mỏng, tiếng niệm Phật lại cất lên. Có khi là cả một gian chùa cùng niệm. Có khi chỉ là một bà cụ ngồi bên hiên nhà, lần tràng hạt, miệng khẽ gọi tên Ngài như gọi một người thân đang chờ đâu đó phía trước.

Trời đã sẫm hẳn. Đứa cháu dụi đầu vào vai bà, mắt lim dim. Ngoài kia, một hồi chuông chùa xa vẳng lại trong gió. Bà vẫn ngồi đó, hai tay chắp trước ngực, và lại khẽ niệm, đều đều như hơi thở: Nam Mô A Di Đà Phật. Cả nhà ơi, câu niệm ấy, chiều nào cũng ngân lên đâu đó trên đất nước mình, như một ánh sáng nhỏ thắp lên giữa hoàng hôn, ấm áp và không bao giờ tắt.

Câu chuyện gần đây