Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Bùi Cầm Hổ và nồi cháo lươn ngoài chợ

0:000:00

Dưới chân núi Hồng Lĩnh, ở vùng đất Hà Tĩnh, có một ngôi đền nhỏ nép mình trong bóng cây. Gần đó, một dòng nước vẫn lặng lẽ chảy qua khe đá, trong veo, mát rượi, tưới xuống những cánh đồng phía dưới. Dòng nước ấy không tự nhiên mà có. Hơn năm trăm năm trước, có một ông quan già về quê, đã chỉ cho dân đắp đập, đào mương, dẫn nước từ trên núi xuống cho cả một vùng ruộng vốn quanh năm khô hạn. Ông quan ấy tên là Bùi Cầm Hổ.

Bùi Cầm Hổ là người có thật, sống vào thời Lê, cách nay chừng thế kỷ mười lăm. Ông làm quan Ngự sử, tức là chức quan chuyên nói thẳng, chuyên xét việc đúng sai, dưới ba đời vua nhà Lê. Người ta nhớ ông vì tính ngay thẳng, vì cái đức thương dân. Nhưng có một câu chuyện về ông mà người đời sau vẫn thích kể hơn cả, kể mãi từ đời này sang đời khác. Đó là chuyện một nồi cháo lươn ngoài chợ. Chuyện này là giai thoại dân gian, được nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi ghi lại trong kho truyện cổ tích của người Việt mình, chứ không phải trang sử chép việc quan trường. Ta cứ nghe như nghe một câu chuyện kể bên hiên nhà.

Người ta kể rằng, thuở còn trẻ, Bùi Cầm Hổ nhà nghèo lắm. Ông rời quê, lên tận kinh thành Thăng Long để ăn học, trong túi chẳng có mấy đồng. Ngày ngày ông đi qua chợ, nghe đủ thứ chuyện của người mua kẻ bán. Một hôm, cả khu chợ xôn xao về một chuyện buồn.

Có một người vợ, thương chồng sắp đi xa, bèn ra chợ mua lươn về nấu một nồi cháo nóng cho chồng ăn lấy sức. Chồng ăn xong nồi cháo, được một lúc thì bỗng thấy trong người khó ở, rồi qua đời. Cả làng nhìn nhau sợ hãi. Ai nấy đều nghĩ tới một điều đáng sợ nhất. Người ta bảo nhau, chắc chắn người vợ đã bỏ thứ gì đó vào cháo để hại chồng. Thế là người vợ bị bắt giam, bị nghi là kẻ giết chồng. Chị kêu oan đến khản cả tiếng, rằng mình chỉ nấu một nồi cháo lươn bình thường như mọi bận, nhưng chẳng một ai chịu tin.

Bùi Cầm Hổ nghe chuyện, trong lòng cứ thấy gợn lên một điều khó hiểu. Ông nghĩ, một người vợ ngồi thổi lửa nấu cháo cho chồng ăn đường xa, sao lại nỡ ra tay. Mà nếu chị không hại chồng, vậy thì vì cớ gì người chồng khỏe mạnh lại đột nhiên ngã xuống, ngay sau bát cháo lươn? Cả nhà thử ngẫm cùng ông xem. Nồi cháo ấy nấu từ lươn mua ngoài chợ. Vậy thì bí mật, nếu có, hẳn phải nằm ngay trong mớ lươn đó.

Nghĩ vậy, ông không ngồi yên. Ông lần ra đúng khu chợ bán lươn, đứng lẫn vào đám người mua, chăm chú nhìn từng con lươn trong thúng, trong chậu. Ông để ý thật kỹ. Và rồi ông nhận ra một điều mà người bán vội, người mua vội đều dễ dàng bỏ qua. Trong đám lươn thường, thỉnh thoảng lại lẫn vào một con trông gần giống hệt, cũng vàng, cũng trơn, cũng dài. Nhưng con ấy ở cổ có lấm tấm mấy chấm đen, và hễ nhấc lên là nó ngóc cái đầu dựng đứng lên như một con rắn nhỏ. Loại này không phải lươn hiền để nấu cháo. Ăn phải nó là trúng độc.

Đến đây thì mọi chuyện sáng dần ra. Người vợ hôm ấy ra chợ, giữa mớ lươn lúc nhúc, đã vô tình mua nhầm phải một con lươn độc trà trộn trong đó. Chị đâu có ngờ. Chị vẫn làm cá, vẫn thổi lửa, vẫn nấu nồi cháo bằng tất cả tấm lòng, y như bao lần trước. Cái chết của người chồng là một tai nạn đau lòng, chứ tuyệt nhiên không phải một vụ mưu hại. Người vợ hoàn toàn vô tội.

Biết được sự thật thì đã mừng, nhưng nói cho người ta tin lại là chuyện khác. Bùi Cầm Hổ khi ấy chỉ là một anh học trò nghèo, áo quần bạc phếch. Vậy mà ông vẫn mạnh dạn tìm đến cửa quan, xin cho khoan lại việc xử người vợ, để ông được trình bày cho rõ. Ông bắt đúng loại lươn độc kia, đặt bên cạnh con lươn thường, chỉ cho các quan thấy tận mắt chỗ khác nhau. Đây, cái cổ lấm chấm đen. Đây, cái đầu ngóc lên như rắn. Chính con vật này, chứ không phải người vợ, mới là nguyên do của tai họa.

Trước bằng chứng rành rành ngay trước mắt, nỗi oan khuất bấy lâu tan biến. Người vợ được minh oan, được cởi trói, được thả cho về đoàn tụ với gia đình. Cả một mạng người suýt bị hàm oan, vậy mà được cứu, chỉ nhờ một anh học trò nghèo chịu khó đứng lại bên thúng lươn ngoài chợ mà nhìn cho thật kỹ.

Chuyện đến tai nhà vua. Vua Lê Thái Tổ nghe xong thì hết sức cảm phục. Một người trẻ tuổi, không chức không quyền, chỉ bằng con mắt tinh và cái đầu biết suy xét mà gỡ được một nỗi oan tưởng như không sao gỡ nổi. Vua cho rằng đó đúng là cái tài mà việc xét xử trong nước đang cần. Thế là Bùi Cầm Hổ được đặc cách làm quan, dù ông chưa từng bước qua một kỳ thi lớn nào. Từ đó, ông thành một vị quan xử án nổi tiếng công minh, việc gì cũng xét cho tới nơi tới chốn, không vội tin lời đồn, không vội buộc tội ai khi chưa nhìn cho rõ sự thật.

Điều làm nên Bùi Cầm Hổ không phải phép màu nào cả. Người khác đi lướt qua một nồi cháo, một mớ lươn ngoài chợ, ông thì dừng lại nhìn. Người khác nghe đồn rồi tin ngay, ông thì hỏi lại một câu vì sao. Cái nhìn kỹ càng và tấm lòng không nỡ để ai chịu oan ấy đã theo ông suốt cả đời làm quan.

Về sau, khi tuổi đã cao, ông trở về quê nhà dưới chân núi Hồng Lĩnh. Ông không nghỉ ngơi, mà lại lo cho dân một việc rất đời thường khác: dẫn nước. Ông chỉ cho dân đắp đập đá, đào mương, đưa dòng nước từ khe núi về tưới cho khoảng một nghìn mẫu ruộng vốn quanh năm khát nước. Ruộng có nước, mùa màng tươi tốt, dân làng no ấm hơn.

Và dòng nước lặng lẽ chảy bên ngôi đền nhỏ ở Hà Tĩnh hôm nay, chính là dòng nước ông để lại. Ngôi đền thờ ông đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia từ năm một nghìn chín trăm chín mươi hai. Mỗi độ đầu xuân, người trong vùng lại về đây thắp hương, tưởng nhớ một ông quan đã sống trọn đời ngay thẳng. Ai đến đứng bên khe nước ấy, nghe tiếng nước róc rách chảy qua đá, cũng có thể khẽ nhớ lại câu chuyện năm xưa: một anh học trò nghèo, một thúng lươn ngoài chợ, và một cái nhìn đủ chậm, đủ kỹ, để cứu được một con người.

Câu chuyện gần đây