Sự tích chim năm trâu sáu cột và chim bắt cô trói cột
Năm con trâu bước vào sân. Sáu cái cột đứng chờ.
Chỉ cần nhìn hai con số ấy, ai cũng thấy có điều gì chưa khớp. Nhưng chính chỗ chưa khớp đó đã đi từ một góc sân dưới chân núi vào tiếng kêu của hai loài chim rừng.
Người Việt mình kể rằng ngày xưa, trong một xóm dưới chân núi, có bác lực điền tên là Ba. Bác không có ruộng riêng. Bác làm rẽ năm sào ruộng của một phú ông ở làng bên cạnh.
Bác Ba đã làm ruộng cho nhà ấy từ lâu. Bác thật thà, chăm chỉ, tới vụ thì nộp thóc sòng phẳng. Phú ông tin bác nên giao thêm việc chăn nuôi đàn trâu. Qua một thời gian, đàn trâu sinh nở thành năm con.
Từ khi nhận thêm đàn trâu, công việc mỗi ngày của bác Ba bận hơn trước. Ngoài việc trên năm sào ruộng làm rẽ, ngày nào bác cũng đưa cả đàn đi ăn. Tới chiều, năm con trâu lại theo bác về xóm dưới chân núi.
Ở góc sân có những chiếc cột dùng để buộc trâu vào ban đêm. Mỗi con một cột. Nhưng trong hàng cột ấy có một điều bác Ba chưa kịp sửa cho gọn. Một chiếc cột đã gần gãy, nên bác đóng cột khác để thay. Cột mới đã dùng được. Cột cũ vẫn còn đứng đó.
Người biết chuyện chiếc cột cũ sẽ không thấy có gì lạ. Nhưng người chỉ nhìn hàng cột lần đầu rất dễ nghĩ khác.
Rồi phú ông qua đời. Người con gái duy nhất thừa kế ruộng đất, trâu bò và những tài sản khác của cha. Cô biết bác Ba đang trông nom một đàn trâu, nhưng không biết chính xác đàn có bao nhiêu con. Một buổi chiều, khi bác Ba vẫn đang đưa trâu đi ăn, cô đến nhà bác để xem.
Cô đi tới góc sân.
Đàn trâu chưa về, nên trong sân lúc ấy chỉ có hàng cột đứng im. Cô chưa thể đếm trâu. Điều duy nhất cô có thể đếm trước mắt là những chỗ dùng để buộc chúng.
Cô nhìn dọc hàng cột và đếm chậm: một cột, hai cột, ba cột, bốn cột, năm cột, rồi sáu cột. Cô đếm lại từ đầu. Kết quả vẫn là sáu.
Từ sáu cái cột, cô suy ra phải có sáu con trâu. Cô không biết một cột trong số đó đã gần gãy, được thay bằng cột mới nhưng chưa nhổ đi. Cái cột cũ đứng im, không thể tự kể vì sao nó còn ở đó.
Chiều xuống, bác Ba đưa đàn trâu về. Từng con một bước vào sân, quen lối tìm đến chỗ buộc của mình. Cô gái đứng chờ và đếm theo từng bước chân: một con, hai con, ba con, bốn con, năm con. Con cuối cùng đã vào sân, phía sau không còn con nào nữa.
Cô không dừng ở một lượt. Cô đi dọc đàn, đếm từ con đầu tới con cuối, rồi quay lại đếm thêm lần nữa. Lần nào cô cũng dừng ở con thứ năm.
Cả nhà thử dừng lại và đếm cùng cô nhé. Đàn trâu đã vào hết, còn hàng cột vẫn thừa ra một chiếc. Cái cột nào khiến hai lượt đếm chưa khớp?
Cô hỏi bác Ba con trâu còn lại ở đâu.
Bác Ba ngạc nhiên. Bác nói từ đầu đàn trâu chỉ có năm con, và bác vẫn chăm đủ cả năm.
Cô gái chỉ vào hàng cột. Cô hỏi, nếu chỉ có năm con trâu thì vì sao lại có sáu cột.
Bác Ba giải thích ngay. Một chiếc cột trước đó gần gãy. Bác phải đóng cột khác để thay, nhưng chưa kịp nhổ cột cũ đi. Sáu cột không có nghĩa là sáu trâu.
Cô gái vẫn cho rằng còn thiếu một con và bảo bác Ba đi tìm.
“Năm trâu sao lại sáu cột?”
Cô chỉ vào hàng cột và lẩm bẩm câu ấy mãi. Rồi cô bật dậy. Bác Ba bực mình bỏ đi vào rừng, còn cô đi theo sau. Lời qua tiếng lại cũng theo họ rời khỏi góc sân.
Về sau, bác Ba và cô gái đều hóa thành chim.
Hai loài chim ấy xuất hiện ở vùng rừng núi Thái Nguyên và Bắc Kạn, nơi câu chuyện được kể là đã xảy ra. Chúng kiếm ăn từ lúc trời nhá nhem cho tới khi mờ sáng.
Khi sườn núi này đã tối, một tiếng chim cất lên. Người nghe thấy âm thanh ấy giống hệt một câu hỏi vẫn chưa chịu dừng:
“Năm trâu sáu cột.”
Từ phía núi bên kia, một con chim khác đáp lại. Tiếng của nó nghe thành:
“Bắt cô trói cột.”
Đó chỉ là cách tai người nghe tiếng chim rồi ghép thành lời. Hai tiếng kêu gọi đáp, một từ phía núi này, một từ phía núi kia.
Người ta nghe tiếng từng loài mà đặt tên. Một loài thành chim năm trâu sáu cột. Loài kia thành chim bắt cô trói cột.
Từ nhá nhem đến mờ sáng, hai con chim vẫn kiếm ăn ở hai phía núi. Thỉnh thoảng, tiếng bên này lại cất lên. Tiếng bên kia lại đáp.
Một tiếng gọi:
“Năm trâu sáu cột.”
Một tiếng đáp từ phía núi xa:
“Bắt cô trói cột.”