Hai kiểu áo
Trong một khu phố nhỏ ở xứ Bắc, có một hiệu may nép mình bên đường. Sáng nào cũng vậy, khi trời vừa hửng, người thợ may đã mở cửa, trải tấm vải lên mặt bàn gỗ đã lên nước bóng loáng vì năm tháng. Tiếng kéo lách cách cắt trên nền lụa, tiếng kim luồn qua vải nghe sồn sột rất khẽ, cứ thế ngân nga suốt ngày như một điệu nhạc riêng của nghề.
Người thợ may ấy khéo có tiếng. Một tấm áo qua tay ông, đường chỉ thẳng tăm tắp, vạt áo buông đều, mặc vào vừa in như thể tấm áo sinh ra là để dành cho đúng người ấy mà thôi. Ai trong vùng muốn có một manh áo tử tế, thể nào cũng tìm đến cái hiệu may nhỏ bên đường này.
Chuyện cả nhà sắp nghe đây là một truyện cười dân gian, ông bà mình vẫn kể lại từ đời xưa để cùng nhau cười vui. Chuyện rằng, một hôm, có một ông quan lớn tìm đến hiệu may.
Ông quan bước vào, dáng bệ vệ, áo mũ chỉnh tề. Ông bảo muốn may một chiếc áo thật sang, thật đẹp, để mặc mà tiếp khách cho ra dáng. Người thợ may vâng dạ, đon đả mời quan ngồi, rồi mang ra tấm lụa mịn màng nhất trong nhà, thứ lụa mặc vào mát rượi, ánh lên dịu dàng dưới nắng.
Số là ông quan này, trong vùng ai cũng biết tính. Hễ đứng trước quan trên thì ông khép nép, khom lưng, cúi đầu, một điều bẩm hai điều dạ, nhỏ nhẹ hết mực. Vậy mà lúc quay ra với dân thường thì ông lại vênh mặt, ưỡn ngực, nói năng trịch thượng, coi thiên hạ chẳng ra gì. Người trong vùng thấy vậy, chỉ biết nhìn nhau mà lắc đầu.
Người thợ may cầm thước, bắt đầu đo cho quan. Ông đo bề ngang vai, đo vòng lưng, đo chiều dài tấm áo, miệng lẩm nhẩm tính từng khoảng một. Đo xong đâu đấy, ông ngẩng lên, chắp tay lễ phép mà thưa.
Bẩm quan lớn, xin quan cho con hỏi một điều. Chẳng hay chiếc áo này quan may để mặc tiếp ai ạ?
Ông quan nghe hỏi thì hơi ngạc nhiên, nhíu mày nhìn xuống.
Nhà ngươi hỏi thế để làm gì? May áo thì cứ may cho khéo, cần chi biết ta tiếp ai.
Người thợ may vẫn giữ giọng nhỏ nhẹ, ôn tồn.
Thưa quan, con hỏi là để may cho thật vừa vặn ạ. Bởi tùy quan mặc chiếc áo ấy vào lúc nào, mà con phải cắt cái vạt cho khác đi một chút.
Ông quan càng nghe càng lấy làm lạ, bèn giục người thợ nói cho rõ. Người thợ may đặt tấm thước xuống, thong thả trình bày, cứ như đang bàn một chuyện nghề hết sức bình thường.
Bẩm quan, nếu quan may chiếc áo này để mặc mà hầu các quan trên, thì con xin phép cắt cái vạt đằng trước ngắn lại một chút. Có thế, lúc quan khom lưng cúi mình xuống, tà áo phía trước mới không bị chùng, mới gọn gàng, không vướng víu.
Ông quan gật gù, nghe ra cũng có lý. Người thợ may lại thưa tiếp.
Còn nếu quan may chiếc áo này để mặc mà tiếp dân thường, thì con lại phải cắt cái vạt đằng sau ngắn lại mới được ạ. Bởi khi ấy quan ngả người ra phía sau, ưỡn ngực ngẩng cao, thì tà áo phía sau mới không bị lệt bệt quét xuống đất.
Nói xong, người thợ may chỉ chắp tay đứng đợi, mặt mũi thật thà, như thể vừa hỏi một câu hết sức thường tình. Cái điều người thợ vừa thưa ra, đâu còn là chuyện vạt áo dài ngắn nữa. Đáng lẽ nghe đến đây, ông quan phải giật mình mới phải.
Vậy mà ông quan chẳng những không giật mình, lại còn ra chiều tâm đắc. Ông vỗ đùi một cái, gật gù khen phải, rồi ung dung bảo.
Nhà ngươi nói chí phải. Thợ khéo có khác, nghĩ được đến cả cái lẽ ấy. Thôi thì thế này, nhà ngươi cứ may cho ta cả hai kiểu áo. Một kiểu để ta hầu quan trên, một kiểu để ta tiếp dân. Kiểu nào ra kiểu nấy, cho ta đủ cả đôi.
Người thợ may vâng dạ, cúi đầu nhận lời, trong bụng thì đã hiểu cả rồi. Ông chẳng nói thêm câu nào, chỉ lẳng lặng cầm kéo, cắt tấm lụa ra thành hai chiếc áo, đúng như lời quan dặn. Chiếc để hầu quan trên, ông cắt cái vạt trước ngắn hơn một khoảng. Chiếc để tiếp dân, ông cắt cái vạt sau ngắn hơn một khoảng. Kim chỉ lại luồn qua vải sồn sột, đường khâu cứ thế dài dần trong ánh đèn.
Mấy hôm sau, ông quan trở lại thử áo. Ông mặc chiếc thứ nhất, khom lưng cúi mình xuống, tà áo đằng trước quả nhiên gọn gàng, chẳng hề vướng. Ông thay sang chiếc thứ hai, ngả người ưỡn ngực ngẩng cao, tà áo đằng sau cũng vừa khít. Ông quan thích chí lắm, cười khà khà, khen tấm tắc người thợ đo khéo cắt tài. Rồi ông trả tiền hậu hĩnh, ôm cả hai chiếc áo ra về, lòng vui phơi phới, chẳng mảy may ngờ mình vừa mặc lên người đủ cả hai cái dáng ấy.
Người thợ may tiễn quan ra tận cửa, chắp tay cúi chào cho đến khi bóng quan đi khuất hẳn sau khúc quanh. Rồi ông quay vào, ngồi xuống bên bàn gỗ, lại cầm lấy cây kim sợi chỉ, tiếp tục tấm áo còn dang dở trên bàn. Tiếng kéo lại lách cách, tiếng kim lại luồn qua vải khe khẽ, hiệu may nhỏ trở về yên ắng như chưa từng có chuyện gì.
Chỉ có câu chuyện hai kiểu áo là ở lại. Người xứ Bắc truyền tai nhau, kể đi kể lại, mỗi lần kể là mỗi lần cười. Cười xong, thể nào cũng có người khẽ ngẫm một lúc, rồi đưa mắt nhìn quanh, xem thử ngoài kia có ai đang mặc lẫn lộn hai kiểu áo ấy hay không.