Cá bống sông Trà kho tiêu và cái trách đất nhớ quê
Cái trách đất đang đói.
Lòng nó trống trơn, khô và nguội, chưa có lấy một giọt nước mắm. Cái nồi đất nung ấy đang chờ cá, thứ cá còn sống, vừa mới lên từ sông Trà Khúc. Cá chưa về thì lửa chưa nhóm.
Ngoài sông, trời còn tối mờ. Trên mặt nước khúc giữa sông Trà, những cây vè bằng tre, bằng sậy nhô lên khỏi dòng chảy. Bên mỗi cây vè có một ống tre nằm ngầm. Người đi sông thả ống từ buổi chiều, sáng sớm hôm sau mới ra gỡ. Cây vè đứng canh để người gỡ ống tìm đúng chỗ, và để ghe thuyền qua lại trông thấy.
Mỗi ống là một khúc tre khô. Người làm ống đục thông mắt tre, cho hai đầu cùng trống. Họ xỏ một cây cọc qua giữa thân ống, cắm xuống, giữ ống nằm yên dưới làn nước. Một ống tre mới làm thì còn nồng mùi tre, cá bống chẳng chịu chui vào. Nó phải nằm dưới sông nhiều ngày, cho rêu bám quanh, cho mùi tre nhạt đi, cá mới bắt đầu tìm tới.
Với con cá bống, cái ống tre là một chỗ trú. Trong lòng ống, cá tránh được dòng nước, tìm được cái ăn, và tìm được nhau. Vào mùa sinh sản, bống hay ở từng đôi, có khi một ống có tới mấy con.
Sáng sớm, người đi gỡ ống ra tới chỗ cây vè. Anh tới thật khẽ, để những con cá bên trong không giật mình. Hai bàn tay anh bịt kín hai đầu ống, nhấc lên, dựng đứng ống lên. Nếu trong ống có cá, anh sẽ nghe từ lòng tre vọng ra những tiếng ro ro, ro ro.
Có ống chẳng có lấy một con. Có ống được một con. Có ống được vài con.
Bên cạnh anh, một chiếc giỏ đan bằng tre nổi lềnh bềnh trên mặt sông, buộc vào sợi dây anh vòng quanh ngang lưng. Người bên sông gọi nó là cái vịt. Anh nghiêng miệng ống, trút cá vào vịt. Đáy vịt chìm dưới nước, nên những con cá trong đó vẫn sống, vẫn quẫy. Cá có còn sống thì cái trách ở nhà mới nhận. Anh đi tới đâu, cái vịt lặng lẽ theo tới đó.
Xa hơn một chút, có người bơi ngược dòng cho nước khỏi đục, lặn xuống sát bên ống, rồi trồi lên lắc nhẹ cái ống. Thấy cá chạm vào tay, người ấy đưa đầu ống vào miệng vịt. Việc lặn gỡ ống ấy là việc của người lớn.
Sông Trà Khúc có nhiều thứ cá ngon, nào cá thài bai, nào cá đối, cá hanh. Đứng đầu trong số ấy là con cá bống. Bống sông Trà vảy mịn, vây ngắn và thon. Con cá ít xương mà nhiều thịt, thịt chắc và thơm.
Ở sông Trà, những người gỡ ống như anh chia cá bống ra nhiều loại. Bống găm thì to, cỡ ngón chân cho tới cỡ con cá chuồn. Nó ở trong hang ven bờ, nướng than là hợp. Còn bống nhọn, hay bống kèn, nhỏ như đầu chiếc đũa, đầu nhọn hoắt. Người ta đem hấp, ăn kèm bánh tráng mè. Bống dừa đầu to, mình nâu sẫm, lắm xương, đem kho tiêu thì chỉ thường thường.
Kho tiêu, ngon nhất là bống cát. Nó không to như bống găm, cũng không nhỏ như bống nhọn. Đầu nó nhỏ, mình tròn lẳn, vảy mịn. Thân cá màu vàng nhạt, ngả dần sang vàng óng. Cái trách đất ở nhà chỉ chờ bống cát.
Anh tới một cây vè khác, bịt hai đầu ống, dựng lên. Ro ro, ro ro. Ống tre của anh nằm ở khúc giữa sông, chỗ bống ngon nhất. Ngược lên phía đầu nguồn, nước chảy mạnh, ít thức ăn, cá gầy và dai. Xuôi về gần biển, nước mặn, cá nhiều xương và mất vị riêng. Ở khúc giữa ấy, nước trong vắt, cá bống vùi mình dưới lớp cát trắng.
Cá ngon vào mùa mang trứng, khi đầu nguồn Trường Sơn thường có những cơn mưa giông. Những ngày ấy, nước sông êm, đầy những thứ thức ăn li ti. Cá béo tròn, bụng căng trứng, đúng thứ cá cái trách đang chờ.
Nhiều dòng sông cũng có cá bống. Có cả con bống trong chuyện cổ tích, với câu gọi bống bống bang bang quen thuộc. Nhưng hễ nhắc tới bống kho tiêu, người ta lại gọi tên sông Trà Khúc.
Người trong vùng có một câu nghe như câu hát: Chim mía Xuân Phổ, kẹo gương Thu Xà, cá bống sông Trà, mạch nha Mộ Đức. Cả nhà đọc theo một lần là nhớ. Người Quảng Ngãi tự hào về con cá ấy từ lâu lắm rồi.
Những ống tre như của anh bây giờ đón được ít cá hơn ngày trước. Tỉnh Quảng Ngãi đã giúp cá bống cát đẻ trứng, nở ra thật nhiều cá con, rồi thả những đàn cá con ấy về lại sông Trà, mong dòng sông lại đông cá.
Nắng lên, những cái vịt theo người gỡ ống vào bờ. Theo nếp quen bên sông Trà, các anh các chú lo gỡ ống. Các chị các mẹ lo kho cá. Tới bến, anh trao cá cho chị. Cá về tới nhà vẫn còn tươi rói.
Chị cầm một cái gai tre, khéo léo khều ra sợi ruột đen nơi bụng cá. Rồi chị thả cá vào một cái tô đất nung tráng men màu da lươn. Một ít muối trắng rắc lên, chị xóc qua xóc lại cho nhớt cá trôi đi. Xong xuôi, chị rửa cá lại thêm một lần nữa.
Đến lúc này, cái trách mới có cái ăn. Chị xếp cá vào lòng trách, rót nước mắm vào. Nước mắm vừa ngập, chị để yên đó một lúc cho thịt cá thấm dần, như con cá đang ngáp từng ngụm nước mắm vào mình.
Hạt tiêu chị đã giã thật mịn. Màu cho nồi cá, chị lấy từ dầu gấc hay đường mía thắng già, chứ không dùng phẩm màu. Trước tiên, chị rắc tiêu, rưới màu vào trách. Dầu phộng phi thơm với củ nén thì chị để dành, rưới vào sau.
Chị nhóm lửa bếp, riu riu thôi, rồi kê trách lên trên. Trong lòng trách, những con cá chậm rãi cong mình. Cong dần, cong dần, tới khi con cá khom lại như lưng con tôm. Tới đó, chị hạ lửa, xóc nhẹ cái trách cho đều. Kho xong, chị tắt bếp, để cá nằm yên trong trách cho thịt săn lại, chắc và thơm.
Cái trách nguội dần. Trên mình mỗi con cá hiện ra một lớp áo mặn sẫm màu, phủ từ chóp mũi tới tận vây đuôi. Lòng trách giờ đầy ắp, thơm lừng.
Ca dao Quảng Ngãi có câu về một người đi xa quê. Câu ca rằng: Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu.
Nồi cơm cũng vừa chín, nấu từ gạo tháng ba, độn chút khoai lang khô. Bên cạnh là đĩa rau muống luộc xanh mướt. Người lớn gắp con cá bống kho tiêu, thấy thịt chắc và thơm, cay cay mằn mặn. Con nào mang trứng thì càng béo. Từng đũa rau muống chấm vào nước kho trong trách.
Mấy đứa nhỏ trong nhà thì ăn cơm với rau muống chấm nước kho, và những miếng thịt cá người lớn đã gỡ sạch xương. Với người hai bên bờ sông Trà, một bữa cơm như thế là bữa đãi khách quý, vừa trọng, vừa thương.
Bữa cơm xong, trong trách còn lại mấy con cá. Người lớn dầm nát chúng, nhặt ra từng chiếc xương nhỏ, rồi cho vào nồi canh rau muống. Nồi canh ngọt lừ. Cái trách đất trống trơn, lại đói.
Ở một nơi xa lắm, anh trong câu ca dao vẫn nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu, nhớ cái trách đất lúc nó còn đầy.