Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Cá cháy sông Hậu, con cá hớp sương mùa gió chướng

0:000:00

Sương nằm sát mặt sông Hậu, dày và trắng, che kín cả hai bờ.

Đã quá nửa đêm. Giữa màn trắng ấy, một chiếc xuồng nhỏ đã ra gần sông cái. Trong xuồng là hai cha con làm nghề chài lưới ở Đại Ngãi. Người cha là cụ Năm Viên. Người con tên Bảy Quang. Họ chèo xuồng rời bến từ đầu hôm. Giờ sương đã đặc lại, tới lúc bủa câu rồi.

Cá cháy quen về những khúc sông giáp nước, chỗ nước ngọt sông Hậu gặp nước lợ trước khi ra biển. Đang mùa gió chướng. Mùa chính của cá, dân đi sông gọi là từ gió chướng non qua gió chướng già, khi nước sông xuống thấp và nước mặn ngoài biển lấn lên. Cá cháy là thứ cá quý của sông Hậu, mỗi năm chỉ về nhiều vào một mùa, quanh Tết Nguyên đán.

Hơn hai trăm năm trước, con cá ấy đã có tên trong bộ sách về đất Gia Định xưa của ông Trịnh Hoài Đức, một vị quan nhà Nguyễn, cũng là người chép sử. Ông tả cá béo và ngọt mà nhiều xương, dặn nên nấu chín, đừng ăn sống. Ông còn biết cá nhiều ở Vĩnh Thanh, Định Tường, những vùng đất xưa của phương Nam, còn vùng phía bắc thì không có.

Hai cha con thả đường câu xuống nước, từng đoạn, từng đoạn, rồi ngồi im mà chờ. Chung quanh chỉ có sương, chẳng thấy trời.

Rồi mặt sông bắt đầu động. Đâu đó trong màn trắng, nước lăn tăn. Những cái miệng cá ngoi lên, đớp khí, đớp những thứ li ti nổi trên mặt nước. Chúng chìm xuống, rồi lại ngoi lên, cả bầy, hết đợt này tới đợt khác. Dân trong nghề gọi kiểu ăn ấy là hớp sương, đớp bóng. Bầy cá cháy đã về.

Người ven sông vẫn nói cá cháy hớp sương mù mà sống. Họ tin con cá uống hơi sương của trời đất, nên thịt mới chắc, mới mềm, mới sạch như thế.

Đường câu vẫn nằm im. Cá cháy vốn ít khi chịu cắn mồi.

Tới lượt chiếc chài. Hai cha con quăng mạnh tay, tấm lưới bung tròn rồi chìm vào màn sương. Có những sáng, kéo chài lên là thấy cá cháy mắc trong lưới, mình dài, hơi dẹp. Vảy nó to bằng móng tay cái, ánh bạc pha vàng đất. Cá cháy lên khỏi nước là chết rất mau, mà cá phải còn tươi mới bán được.

Con cá ấy từ đâu tới? Bác Bảy Quang kể cá cháy từ biển ngược lên sông Hậu để đẻ. Con cá mẹ mang trong bụng một cặp trứng to, màu vàng. Trứng có dầu nên nổi trên mặt nước, trôi xuôi theo dòng, rồi nở ra cá con. Đợi khi lớn hơn một lóng tay, đàn cá nhỏ bơi ra biển. Chỉ những người đóng đáy, cắm lưới chờ sẵn giữa dòng, mới có dịp nhìn thấy đàn cá con.

Phía đông ửng sáng. Mặt trời vừa nhô lên, sương bắt đầu mỏng đi. Hai bờ sông hiện dần ra. Người ven sông kể cá chỉ mắc lưới lúc sáng sớm, nắng lên là cá lặn sâu, còn mùa mưa thì cá chẳng chịu ngoi lên.

Trời sáng thì phải về. Cụ Năm Viên và người con thu câu, cầm chèo, chèo thật lẹ vào bờ. Chiếc xuồng rẽ qua làn sương mỏng, về tới vàm Đại Ngãi vừa kịp phiên chợ sớm.

Những mùa cá ấy, ngược lên Trà Ôn, có những gian bếp ven sông đem cá cháy kho với mía. Các bà, các chị lót những lát mía thái mỏng xuống đáy nồi. Cứ một lớp mía, họ lại xếp lên một lớp cá. Xếp xong, người nấu bắc nồi lên bếp, để lửa liu riu. Có người canh lửa nhỏ như thế suốt mấy tiếng đồng hồ, chờ cho xương cá mềm đi.

Có nhà nấu canh chua cá cháy với rau cần và cà chua. Nhà khác để dành khúc giữa đem kho tiêu, còn đầu và đuôi thì nấu canh chua với bông súng, rau muống. Ngon tới đâu, cả nhà nghe câu ca của người Trà Ôn là biết: Trà Ôn cá cháy lạ kỳ. Nấu, rim, kho mặn, món gì cũng ngon.

Ngặt một nỗi, con cá ngon ấy lắm xương. Ngày trước, con nít và những ai chưa quen lừa xương thì khó mà ăn được phần thịt. Lũ nhỏ ngày ấy chỉ ăn phần trứng cá, chan nước cá lên bún. Ở Sóc Trăng, những người nấu khéo tay có cách gỡ xương riêng. Họ đánh vảy con cá, đặt hai chiếc đũa ở cổ cá, rồi kéo mạnh tay một mạch xuống tới đuôi. Xương cá tách ra khỏi thịt.

Trứng cá cháy được quý hơn cả. Có điều trứng nhiều dầu, ăn nhiều quá thì bụng kêu ọc ạch. Ngày ấy, bác Bảy Quang bày cách ăn trứng kèm vảy cá nướng, cho bụng khỏi kêu.

Ngoài tám mươi tuổi, ngồi kể lại những mùa sương cũ, bác Bảy Quang vẫn gọi được tên con cá theo từng cỡ. Con nhỏ là cá cháy so, lớn hơn là cá cháy lứa. Con lớn hết cỡ là cá cháy gộc, hay cá cháy già.

Bác nhớ con cá cháy chỉ quanh quẩn từ vàm Đại Ngãi tới Kế Sách, xa lắm thì lên tới Trà Ôn. Người Trà Ôn, người Cầu Kè cũng nhớ nó, nhớ khúc sông giáp nước trước nhà mình. Cá cứ thưa dần, rồi bác thôi nghề. Vì sao cá thưa, bác cũng không rõ. Đến nay, có người lớn tuổi bảo cá cháy đã thôi về từ lâu. Cũng có người bảo cá vẫn còn trên sông Hậu, chỉ là rất ít, hiếm lắm mới thấy một con.

Vẫn có những sáng giáp Tết, sương nằm sát mặt sông Hậu, dày và trắng, che kín cả hai bờ. Chiếc xuồng của hai cha con đã thôi ra giữa màn sương ấy từ lâu. Chẳng ai dám nói chắc, sáng nay sông Hậu còn giấu bầy cá cháy nào trong màn sương ấy.

Câu chuyện liên quan