Muối Bạc Liêu, một ngày trên ruộng muối Ba Thắc
Gió chướng đã về trên dải đất ven biển Bạc Liêu. Gió chạy một mạch trên vùng bờ biển phẳng lì, dọc bờ chẳng có ngọn núi đá vôi nào. Trên mặt những con kênh, nước gợn lên thành từng lớp nhỏ. Vụ muối năm nay đã mở từ hôm gió chướng mới về. Muối ở đây làm trong mùa khô, mùa nhiều nắng.
Từ lúc nắng còn nhạt, bác làm muối đã ra đồng. Bờ biển thấp như thế, nên người ta dễ dẫn nước biển theo những con kênh vào tới ruộng. Các cửa sông Gành Hào, Chùa Phật, Cái Cùng cũng giúp đưa nước biển vào. Đất dưới chân bác mặn, lại nhiều đất sét, nên giữ được nước biển, ít để nước thấm đi mất.
Ruộng của bác chỉ là một khoảnh nhỏ giữa dải đồng muối chạy dài, từ chỗ giáp biển Vĩnh Châu tới cửa biển Gành Hào. Cả dải ấy nằm trên đất Bạc Liêu cũ, nay thuộc tỉnh Cà Mau. Ở Điền Hải và Long Điền Tây, có nhiều xóm làng được người ta gọi là xóm Muối, hay ấp Diêm Điền. Ở đó, hàng trăm nhà sống bằng nghề muối.
Bác đi dọc bờ cái trảng, phần ruộng giữ nước biển. Nước trong trảng đầy ắp, mặt nước phẳng lặng.
Bây giờ, máy bơm đưa nước biển vào trảng nhà bác. Ngày trước thì vất vả hơn nhiều. Có nơi, người ta phải dẫn nước từ con đê quốc phòng vào tận ruộng, đường nước dài gần ba cây số. Họ đào mương cho nước chảy, rồi tát nước lên nhờ một cái khung hai chân choãi ra, chụm đầu ở trên. Có người trong nghề còn nhớ, những năm đầu mới làm muối, nhiều đêm thức trắng để canh đưa nước biển vào sân.
Nghề muối trên vùng bờ này đã có từ những năm đầu thế kỷ hai mươi, khi người dân tới khai hoang, mở đất ven biển. Tới nay, nghề đã hơn một trăm năm tuổi. Nhiều gia đình làm muối từ ba thế hệ trở lên, có nhà đã tới thế hệ thứ sáu. Cuối năm hai nghìn hai mươi, nghề làm muối ở Bạc Liêu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bác bước qua khỏi trảng. Trước mặt là năm, sáu ô ruộng nhỏ nằm nối nhau. Nước từ trảng chảy dần sang từng ô, phơi dưới nắng, bốc hơi bớt và mặn dần lên. Nhà nào muốn hạt muối sạch hơn thì đào thêm một cái ao cho nước lắng bớt.
Cuối bờ là sân muối, nơi nước biển kết lại thành hạt. Mặt sân ấy bằng và nhẵn mịn, là công sức bác bỏ ra từ hồi đầu vụ.
Hồi ấy, sân còn lổn nhổn cỏ rác. Bác dọn sạch, cào bỏ lớp đất mục, san cho phẳng. Lớp mặt sân là đất sét trộn với cát biển. Bác tưới lên đó một thứ nước biển đã lọc, mặn hơn nước biển thường, rồi dầm đi dầm lại. Lớp đất ướt dẻo quánh. Qua mỗi lượt dầm, đất kết chặt thêm, kín dần, nước biển khó lọt xuống.
Phơi qua mấy lượt nước biển, mặt sân rắn lại. Rồi bác đẩy hủ lô, chiếc trục lăn đất, đi tới đi lui khắp sân. Hủ lô lăn tới đâu, mặt sân nhẵn tới đó. Nền chắc rồi, bác mới cho nước vào làm muối.
Sáng nay, trên mặt sân ấy đã phủ một lớp muối. Nước nằm trong sân suốt nhiều ngày nắng, cứ mỏng dần, mỏng dần, rồi kết lại thành những hạt muối nằm kín mặt sân. Những hôm trời âm u, muối kết chậm hơn. Nghề muối trông cả vào trời.
Ở Vĩnh Thịnh, một người làm muối từng kể: có lần vừa cào được vài lượt thì mưa đổ xuống. Muối tan ra hết, phải làm lại sân muối. Mưa trái mùa là điều bác không mong chút nào.
Hôm nay, ngày mười ba âm lịch, trời trong. Nắng lên cao dần.
Khi nắng đã rực như lửa trên mặt ruộng, bác cầm cây chang, chiếc cào gom muối, đẩy dọc mặt sân. Hạt muối vun lên trước lưỡi cào, thành từng gò nhỏ. Trên những sân bên cạnh, người ta cũng tất bật cào muối, vác muối.
Sân của bác là sân đất. Nhà nào trải tấm bạt nhựa lên sân thì hạt muối trắng hơn. Có điều, nhiều nhà vẫn giữ sân đất như xưa. Họ bảo muối kết trên đất ngon hơn, hạt bóng đẹp hơn.
Cúi xuống bên từng gò, bác lấy tay nhặt ra những mẩu vụn nhỏ lẫn vào muối, cho gò muối thật sạch. Dưới nắng, những gò muối lấp lánh.
Muối Bạc Liêu có màu trắng hồng, không trắng trong như hạt muối miền Trung. Hạt khô, chắc, không lẫn mùi gì khác. Vị muối mặn thanh, không đắng, không chát. Vị mặn tan đi rồi, còn đọng lại một chút hậu ngọt.
Sạch rồi, bác xúc muối vào rổ, chất lên xe chở muối. Bác đẩy xe theo chiếc cầu nhỏ bắc lên bờ ruộng. Trên bờ, những đống muối mỗi lúc một cao thêm. Bác phủ lên mỗi đống một lớp lá dừa. Có nhà thì che bằng tấm ni lông.
Đống muối cuối cùng đã lên bờ, nằm dưới lớp lá dừa. Bác nhìn dọc theo bờ ruộng, nơi mấy đống muối phủ lá nằm thành hàng. Ngày xưa, người ta gọi vùng đất phía nam sông Hậu là Ba Thắc, và muối làm ra ở đây cũng mang cái tên dân gian ấy: muối Ba Thắc. Tên muối Long Điền, muối Bạc Liêu còn vang lên trong một bài vọng cổ tên là Biển cạn, của soạn giả Ngô Hồng Khanh.
Muối nơi đây xưa kia đi xa bằng đường nước. Người ta đào kinh Dòng Me để chở muối từ ven biển vào tận trong thành. Tới nơi, muối được bán cho ghe chở đi thương cảng Sài Gòn, hay ngược sông Hậu sang tận Campuchia. Bên ấy, người ta dùng muối để muối cá, làm nước mắm và làm cá khô.
Ngày ấy, trên bờ sông Bạc Liêu có Tu Muối, nhà kho chứa muối nằm dọc dài gần một cây số.
Mặt sân giờ trống trơn và sạch. Mỗi năm, vào dịp cúng Đình và lúc trời chuyển mùa, người làm muối cúng trời đất và thần linh, cầu cho mùa màng thuận lợi. Còn hôm nay, đến lúc cho nước vào sân, bác bày lên bờ mấy lễ vật đơn giản. Bác khấn cầu trời cho mưa thuận gió hòa, mưa nắng tới đúng lúc. Khấn xong, bác tháo nước đã phơi mặn từ mấy ô ruộng nhỏ xuống sân. Lớp nước trong veo trải ra, phủ kín mặt sân bác vừa cào sạch.
Buổi chiều trôi qua, nước nằm yên trong sân. Rồi trời chạng vạng. Bác đứng lại một lúc trên bờ, nhìn lớp nước mới.
Ngày mai là ngày mười bốn. Người làm muối thường kiêng ba ngày trong tháng: mùng năm, mười bốn và hai mươi ba. Những ngày ấy, ở từng công đoạn của nghề, họ tránh đi lại, tránh bắt đầu một việc mới.
Trên sân muối, chỉ có gió chướng vẫn lướt qua, làm lớp nước mới ấy gợn lên thành những nếp nhỏ.