Cá heo không vây sông Trường Giang
Hai con số, ghi trên hai tờ giấy khác nhau, cách nhau vài năm.
Lần gần đây nhất người ta đi đếm khắp một dòng sông rất dài, con số ghi lại là một nghìn bốn trăm hai mươi sáu. Lần đếm trước đó, con số là một nghìn hai trăm bốn mươi chín.
Hai con số ấy nói một điều rất lạ. Con số mới hơn lại là con số lớn hơn. Nhiều hơn đúng một trăm bảy mươi bảy.
Với một loài vật đang hiếm dần trên thế giới, chuyện đó hầu như không xảy ra. Đếm lần sau thường ít hơn lần trước, rồi lần sau nữa lại ít hơn nữa. Vậy mà ở dòng sông này thì ngược lại.
Loài được đếm là cá heo không vây, và nhà của nó là sông Trường Giang.
Nó không sống ngoài biển. Nó sống trong nước ngọt, ở khúc giữa và khúc dưới của dòng sông, cùng hai cái hồ lớn nối vào sông là hồ Bà Dương và hồ Động Đình. Bà Dương là hồ nước ngọt lớn nhất Trung Hoa. Trong cả họ hàng cá heo không vây, đây là nhánh duy nhất sống hẳn trong nước ngọt, cả đời không ra tới biển mặn.
Thấy nó một lần là nhớ mãi. Trên lưng nó không có cái vây dựng cao như những con cá heo trong tranh vẽ. Chỗ đó chỉ là một sống lưng thấp, gồ lên thành một hàng nốt nhỏ sần sần, như thể có ai khâu một đường chỉ dọc sống lưng. Đầu nó tròn, không mũi nhọn, không mỏ dài. Con lớn nhất dài tới hai mét và nặng tới một trăm ki lô gam.
Nhưng cái làm người ta thương nó nhất là cái miệng. Miệng nó hơi cong lên ở hai bên, cong sẵn như thế từ khi sinh ra, nên nhìn từ bất cứ góc nào cũng thấy một gương mặt đang mỉm cười. Người Trung Hoa gọi nó bằng một cái tên rất trìu mến: thiên thần biết cười của Trường Giang.
Nó cười trong một dòng nước đục. Ở dưới mặt nước ấy, đôi mắt gần như chẳng giúp được gì, nên loài này không đi bằng mắt. Nó phát ra những tiếng tách rất ngắn, cao hơn hẳn ngưỡng tai người nghe được, rồi im lặng lắng nghe tiếng dội trở lại. Tiếng dội cho nó biết phía trước là một khúc gỗ, một bờ cát, hay một đàn cá đang bơi. Nói cách khác, nó nhìn bằng tai.
Bữa ăn của nó thì không kén chút nào. Người ta từng tìm thấy trong dạ dày chúng ít nhất hai mươi loài cá khác nhau, thêm tôm và mấy loài có vỏ. Cứ có cá là nó no.
Đếm một con vật như vậy thì khó vô cùng. Nó nhỏ, lại không có vây trên lưng để người ta nhận ra từ xa. Mỗi lần nổi lên, nó chỉ thở đúng một hơi thật nhanh rồi lặn mất. Trong các loài thú sống dưới nước, đây là một trong những loài khó quan sát bằng mắt nhất.
Loài này đã ở khúc giữa và khúc dưới Trường Giang lâu đến mức khó hình dung nổi. Khoảng hai mươi lăm triệu năm. Dòng sông đổi lòng bao nhiêu lần, bờ bồi rồi lở, làng mọc lên rồi dời đi, mà những cái lưng tròn ấy vẫn nhô lên thở giữa dòng như cũ.
Rồi tới đoạn khó của câu chuyện.
Những tờ giấy đếm hồi trước không hề vui. Năm hai nghìn không trăm mười bảy, người ta đi đếm khắp lưu vực và ghi được một nghìn không trăm mười hai con. Lần nào cũng vậy, đếm lại là thấy ít hơn. Dòng sông mỗi năm một đông tàu thuyền hơn, ồn hơn, và cá trong sông thì mỗi năm một thưa. Với một con vật nhìn bằng tai, một dòng sông ồn ào là một dòng sông tối. Với một con vật sống bằng cá, một dòng sông vắng cá là một dòng sông đói.
Rồi có một việc xảy ra, nghe qua tưởng đơn giản đến mức không thể có tác dụng gì.
Từ ngày đầu tiên của năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, việc đánh bắt cá trên dòng sông ấy dừng lại. Không phải dừng một vụ. Không phải dừng ở riêng một khúc sông nào. Là dừng trên cả dòng sông, và dừng suốt mười năm liền. Những tấm lưới được cuốn lên khỏi mặt nước và ở lại trên bờ.
Mười năm là một khoảng thời gian rất dài đối với một con cá. Một con cá được để yên đủ lâu thì lớn lên, rồi sinh ra một lứa con, rồi lứa con ấy lại sinh tiếp. Cá nhiều lên thì thứ ăn cá cũng nhiều lên theo. Dòng sông đầy dần trở lại, từ dưới lên trên, bắt đầu từ những sinh vật nhỏ nhất mà không ai để ý.
Năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, người ta lại đi đếm. Cách lần trước đúng năm năm. Con số ghi được là một nghìn hai trăm bốn mươi chín.
Kể từ khi loài này bắt đầu được đếm, đó là lần đầu tiên con số đi lên thay vì đi xuống.
Lần đếm sau nữa, năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, con số lên một nghìn bốn trăm hai mươi sáu. Nhiều hơn lần trước một trăm bảy mươi bảy con. Tờ giấy mới hơn, thêm một lần nữa, lại là tờ có con số lớn hơn.
Nói vậy không có nghĩa là loài này đã an toàn. Nó vẫn được xếp ở mức cực kỳ nguy cấp. Một nghìn bốn trăm hai mươi sáu con cho cả một dòng sông mênh mông và hai cái hồ lớn thì vẫn còn quá ít. Mười năm nghỉ đánh bắt cũng chưa hết. Câu chuyện này chưa kết thúc, nó chỉ mới quay đầu.
Nhưng cái quay đầu ấy trông thấy được bằng mắt thường. Ở thành phố Nam Kinh, nơi Trường Giang chảy ngang qua giữa phố, người ta bây giờ gặp chúng khá thường xuyên ngay ở khúc sông trong thành phố. Một cái lưng tròn gồ lên khỏi mặt nước, một tiếng thở nhẹ, rồi lặn mất. Ai đứng trên bờ mà kịp thấy thì nhớ rất lâu.
Cả nhà có thể nghĩ chuyện cá heo sống trong sông là chuyện của một dòng sông xa lạ nào đó. Nhưng dòng sông chảy vào nhà mình cũng có cá heo riêng của nó.
Sông Mê Kông, con sông mà về tới nước mình thì mang tên Cửu Long, cũng có một loài cá heo nước ngọt. Người ta gọi nó là cá heo Irrawaddy. Nó cũng đầu tròn, cũng không mỏ nhọn, trông như một người họ hàng xa của con vật ở Trường Giang. Ngày nay đàn cá heo ấy sống ở một khúc Mê Kông bên Campuchia, tính từ vùng Kratie ngược lên, cách chỗ dòng sông chảy ra biển ở Việt Nam chừng năm trăm ki lô mét. Còn ngày xưa, chúng xuống thấp hơn thế nhiều, xuống tới cả vùng đồng bằng sông Cửu Long của mình.
Nghĩa là khi nghe hai chữ cá heo, cả nhà đừng chỉ nghĩ tới biển. Có những con cá heo suốt đời chưa từng nếm một ngụm nước mặn nào, mà vẫn sống rất giỏi giữa dòng nước ngọt của một con sông.
Rồi trở lại hai tờ giấy lúc đầu.
Con số lớn hơn nằm trên tờ mới hơn, sau khi một dòng sông rất dài được cho nghỉ đánh bắt, một kỳ nghỉ mười năm mà tới giờ vẫn chưa hết. Cá quay lại trước. Rồi tới những cái lưng tròn bóng, nhô lên giữa dòng thở một hơi ngắn, mang theo khuôn miệng cong sẵn thành một nụ cười, rồi lặng lẽ chìm xuống dòng nước đục.