Cầu chim ô thước ngày mồng bảy tháng bảy
Trên bầu trời xứ Triều Tiên, ngày nào cũng có chim ô thước.
Nhiều đến mức không ai buồn đếm. Loài chim đen trắng đuôi dài ấy đậu kín mái nhà, kêu lách chách dọc hàng rào, sà xuống sân nhặt hạt rồi lại vụt lên ngọn cây. Trẻ con ở đó lớn lên cùng tiếng kêu ấy, quen như quen tiếng gió. Cả năm, ngày nào trời cũng đầy chim.
Trừ đúng một ngày.
Ngày mồng bảy tháng bảy, bầu trời trống không. Không một con trên mái. Không một con ngoài sân. Không một con trên hàng rào. Cả xóm im ắng lạ thường, và lũ trẻ cứ ngẩng đầu nhìn khoảng trời rỗng trên đầu mình.
Chúng đi đâu hết rồi?
Đây chính là chỗ mà các bà mẹ Triều Tiên ngày xưa hay ngồi xuống, kéo con vào lòng, và bắt đầu kể.
Trước khi nghe họ kể, có một điều nên nói cho rõ. Chuyện này không phải của riêng xứ Triều Tiên. Cả một vùng Đông Á rộng lớn cùng kể nó, mỗi nơi một kiểu. Ở nhà mình thì nó quen thuộc đến mức gần như ai cũng thuộc: chuyện Ngưu Lang Chức Nữ, đêm Thất Tịch mồng bảy tháng bảy, những cơn mưa ngâu rả rích cuối hè. Chức Nữ nghĩa là cô gái dệt vải. Ngưu Lang nghĩa là chàng trai chăn bò. Trong bản của người Triều Tiên, hai người ấy cũng đúng là một nàng dệt vải và một chàng chăn bò. Vẫn hai người đó, vẫn cái đêm đó. Chỉ khác cách kể, và cái khác nằm ở đàn chim.
Truyện của họ kể rằng ngày xửa ngày xưa, trên Vương quốc Sao, có một ông vua và một nàng công chúa.
Nàng công chúa ấy dệt vải khéo nhất trên trời. Trong cung không có việc gì nàng làm mà không nên chuyện. Nàng lại hiền, lại chịu khó, nên vua cha thương nàng hơn hết thảy. Nàng xin điều gì ông cũng khó lòng từ chối.
Rồi một hôm, có một chàng hoàng tử từ xứ Sao tìm tới sân chầu của vua cha. Chàng trẻ, chàng đẹp, và vừa nhìn thấy nàng là đem lòng thương. Hai bên cha mẹ đều bằng lòng. Đám cưới làm lớn lắm.
Về nhà chồng, nàng vẫn giữ nếp cũ. Nàng lo cơm nước, lo áo quần, lo cả chuyện vui buồn của người ăn kẻ ở trong nhà. Ai nhìn vào cũng bảo chàng hoàng tử kia thật có phúc.
Chỉ có chàng hoàng tử là không giữ được nếp của mình.
Chàng đâm ra lười. Việc của chàng, chàng bỏ mặc đấy. Của cải trong nhà cứ vơi dần, rồi đến của hồi môn của vợ cũng vơi theo. Chàng đem bán sạch đàn bò, bán cả mấy con bê con. Tiền tiêu tán đi đâu hết, chàng phải đi vay, vay chỗ này đắp chỗ kia, cho tới lúc trong nhà không còn nổi một đồng.
Vua cha trên kia nhìn xuống, thấy hết. Ông giận nhất là chuyện đàn bò. Ông dọa sẽ tước ngôi của chàng, sẽ đuổi chàng đi thật xa. Nhưng nàng công chúa lại tìm đến bên cha, xin cho chồng thêm một lần nữa. Và vua cha, như mọi lần, mềm lòng trước con gái. Ông trả hết nợ cho con rể, rồi cho chàng thêm một cơ hội.
Chàng hoàng tử không giữ nổi cơ hội ấy.
Lần này thì vua cha quyết. Ông đày chàng ra tận rìa trời phía bắc con sông sao, xa đến mức đi ròng rã sáu tháng mới tới nơi. Ông đưa con gái mình ra rìa trời phía nam, cũng xa đúng chừng ấy. Giữa hai người là dòng sông rộng mênh mông, chính là dải Ngân Hà mà cả nhà vẫn thấy vắt ngang bầu trời những đêm hè.
Nhưng ông vua ấy không phải người sắt đá. Ngay khi ra lệnh, ông đã mở sẵn một lối. Mỗi năm một đêm, đúng đêm mồng bảy tháng bảy, hai người được phép gặp nhau vài canh giờ.
Hai người lên đường, mỗi người một hướng. Và trong truyện có một chi tiết nghe xong thì khó quên. Vừa đặt chân tới nơi bị đày, cả hai lập tức quay đầu đi ngược trở lại. Không nghỉ lấy một ngày. Đi thêm sáu tháng nữa.
Đúng ngày mồng bảy tháng bảy, hai người cùng tới hai bên bờ Sông Sao.
Rồi họ đứng đó.
Chỉ có thế thôi. Nhìn thấy nhau, vẫy tay với nhau, gọi vọng qua một dòng sông rộng đến nỗi tiếng gọi tan đi giữa đường. Sáu tháng đi bộ, để rồi đứng nhìn nhau qua một khoảng trống không cách nào bước qua.
Hai người khóc.
Mà nước mắt người nhà trời thì không giống nước mắt người thường. Nó làm dòng sông sao dâng lên, tràn bờ, đổ ào xuống mặt đất phía dưới. Nhà cửa ngập. Ruộng vườn ngập. Người và vật dưới trần chạy không kịp.
Thế là muôn loài phải họp nhau lại.
Loài bốn chân kéo đến. Loài dưới nước ngoi lên. Loài có cánh bay về. Bàn tới bàn lui, cuối cùng ai cũng phải công nhận một điều: việc này chỉ loài chim mới làm nổi, mà phải là loài cánh khỏe, bay được lên thật cao.
Và cả hội đồng cùng quay sang nhìn đàn ô thước.
Đàn ô thước nhận lời. Tin truyền đi khắp thế gian, từ bờ biển tới rừng sâu, và chim từ mọi nơi kéo về, hàng triệu con, đen kín cả một vùng trời. Những con chim già dặn nhất đứng ra chỉ huy.
Chúng làm thế này. Trước hết, chúng chụm đầu vào nhau, khít đến mức không còn một kẽ hở, và mặt cầu hiện ra trắng bóng như lát đá. Rồi chúng dang cánh, cánh móc vào cánh, kéo căng lên thành hai sợi dây võng đỡ lấy cả nhịp cầu.
Một cây cầu bằng chim, bắc từ bờ này sang bờ kia Sông Sao.
Chàng hoàng tử bước lên cầu. Sau lưng chàng là cả đoàn tùy tùng, hành lý chất đầy trên những chiếc xe. Cả đoàn đi trên đầu đàn chim mà sang tới bờ bên kia, nơi nàng công chúa đang đợi sẵn. Đêm ấy hai người bày tiệc, ngồi bên nhau, nói với nhau bao nhiêu là lời dịu dàng.
Từ đó năm nào cũng vậy.
Trong xứ của loài ô thước có một điều luật, và điều luật ấy chỉ gồm đúng một câu: tới ngày mồng bảy tháng bảy thì không con chim nào được phép vắng mặt.
Cho nên bây giờ, ở xứ ấy vào đúng ngày ấy, người ta có ba cách để biết trên kia đang xảy ra chuyện gì.
Nếu buổi sáng trời đổ mưa, thì đó là nước mắt mừng của hai người lúc vừa gặp lại nhau.
Nếu chiều xuống trời lại mưa, thì đó là nước mắt lúc chia tay.
Còn nếu nghe tiếng sấm ì ầm phía chân trời, thì đó là tiếng những chiếc xe chở hành lý đang lăn bánh, một chiếc đi về phía bắc, một chiếc đi về phía nam, mỗi người trở lại chỗ của mình thêm một năm nữa.
Rồi chiều tối, đàn chim về.
Chúng lại đậu kín mái nhà, lại kêu lách chách dọc hàng rào, lại sà xuống sân nhặt hạt như mọi hôm. Trời lại đầy chim, y hệt mọi ngày khác trong năm.
Chỉ có một thứ khác đi.
Nếu lúc ấy có đứa trẻ nào chịu khó nhìn thật kỹ một con chim đậu gần, nó sẽ thấy trên đỉnh đầu con chim, lông đã trụi đi mất một mảng.
Người Triều Tiên xưa bảo rằng đó là vết chân của cả đoàn người vừa đi qua. Cũng có người kể khác, rằng lông trụi là vì suốt ngày hôm ấy đàn chim phải đội vật liệu bắc cầu trên đầu mình. Kể kiểu nào thì mảng lông trụi vẫn nằm nguyên ở đó, trên đỉnh đầu một con chim nhỏ, mỗi năm một lần, đúng một lần.