Người ta gọi chàng là Ôn Đạt khờ
"Con mà cứ khóc nhè thế này, lớn lên cha gả cho Ôn Đạt khờ."
Vua nước Cao Câu Ly nói câu ấy lần đầu khi cô con gái út của ông còn bé xíu. Rồi ông nói lần thứ hai. Rồi lần thứ ba. Cô bé mau nước mắt lắm, hơi một tí là khóc vang cả điện, mà hễ nàng khóc thì câu ấy lại bật ra khỏi miệng vua, không sai một chữ.
Nói mãi thành quen, cả cung ai cũng thuộc. Người Hàn Quốc gọi nước ấy là Goguryeo, gọi chàng trai kia là Ondal, còn cô bé hay khóc là Pyeonggang, tiếng mình đọc là Bình Cương.
Nhà vua chỉ nói cho vui. Ông không ngờ trong cung có một người đang nhớ từng chữ.
Còn Ôn Đạt thì có thật, và nghèo thật. Nghèo tới mức ngày nào chàng cũng phải đi xin ăn nuôi mẹ, mà mẹ chàng lại mù. Áo rách, giày mòn vẹt, dáng đi lóng ngóng. Chàng cứ thế qua lại ngoài chợ, và người ngoài chợ đặt cho chàng cái tên gọn lỏn: Ôn Đạt khờ.
Người Hàn Quốc kể về chàng bằng hai vế đặt cạnh nhau. Bề ngoài vụng về đáng buồn cười. Bên trong, lòng chàng trong trẻo. Người ta cười manh áo rách, chứ chưa ai soi vào vế thứ hai bao giờ.
Năm công chúa mười sáu tuổi, nhà vua chọn cho nàng một đám xứng đáng: con nhà họ Cao ở Thượng Bộ, dòng dõi bậc nhất trong nước.
Công chúa không chịu.
Nàng thưa với cha đại ý thế này. Cha vẫn bảo con nhất định sẽ làm vợ Ôn Đạt. Nay cớ sao cha đổi lời cũ. Một người thường còn không muốn nuốt lời mình nói ra, huống chi bậc chí tôn. Người xưa có câu, bậc làm vua thì không có lời nói đùa. Lệnh của cha hôm nay là sai, con không dám vâng.
Nhà vua nổi giận. Ông bảo, con không nghe lời cha thì không còn là con của cha nữa. Ở chung làm gì. Con muốn đi đâu thì đi.
Và nàng đi thật.
Nàng buộc mấy chục chiếc vòng vàng vào phía sau khuỷu tay, rồi một mình bước ra khỏi cung. Không xe. Không kẻ hầu. Không ai đưa đường. Ra tới đường cái, nàng phải hỏi thăm người qua đường xem nhà Ôn Đạt ở đâu.
Cánh cửa thứ nhất vừa khép lại sau lưng nàng. Cửa cung.
Cánh cửa thứ hai là một túp nhà tranh.
Trong nhà chỉ có một bà cụ mù ngồi đó. Công chúa bước tới, cúi chào, hỏi thăm con trai cụ. Bà cụ chưa trả lời vội. Bà đưa tay ra, chạm vào tay khách, rồi nói: con trai già nghèo và hèn, không phải hạng người sang có thể lại gần. Mà hơi của cô thơm lạ thường, tay cô mềm mượt như bông. Cô hẳn là bậc quyền quý. Ai gạt cô mà cô lần được tới đây. Con già đói quá, đã vào rừng bóc vỏ cây du, đi lâu chưa thấy về.
Công chúa quay ra, đi về phía núi. Tới chân núi thì nàng gặp chàng, đang vác trên lưng một bó vỏ cây du từ trong rừng đi xuống.
Nàng nói thật lòng mình cho chàng nghe.
Cánh cửa thứ ba đóng lại nhanh nhất trong cả ba cánh.
Chàng hoảng lên, gạt phắt đi. Đây không phải việc một cô gái trẻ nên làm. Cô nhất định không phải người. Cô là hồ ly hiện hình. Đừng ép tôi. Nói xong chàng cắm cúi đi thẳng, không ngoái lại lấy một lần.
Vậy là trong một ngày, nàng bị chối ba lần. Cha đuổi. Bà cụ bảo đây không phải chỗ của người sang. Chàng thì bỏ chạy.
Nếu câu chuyện đi theo lối thường, lần thứ ba là lần người ta quay về. Nàng làm một việc khác.
Nàng ở lại. Đêm ấy nàng ngủ ngay dưới cái cổng tre trước nhà chàng. Sáng hôm sau nàng lại bước vào, và kể đầu đuôi mọi chuyện cho hai mẹ con nghe, không giấu điều gì.
Ôn Đạt ngần ngừ, chưa biết tính sao. Bà mẹ vẫn một mực từ chối: con tôi hèn mọn quá, không đáng làm đôi với người sang. Nhà tôi nghèo quá, người sang ở không nổi đâu.
Câu trả lời của công chúa ngắn thôi, mà đáng nhớ nhất trong cả truyện. Nàng bảo, người xưa có nói, một đấu thóc rồi cũng giã được thành gạo, một thước vải rồi cũng khâu được thành áo. Đã đồng lòng với nhau rồi thì việc gì phải đợi giàu sang mới sống chung được.
Rồi nàng đem chỗ vòng vàng đi bán. Tiền ấy mua ruộng, mua nhà, mua trâu, mua ngựa, mua đồ dùng, mua cả người giúp việc. Túp nhà tranh của bà cụ mù, sau ít lâu, thành một cơ nghiệp đủ đầy.
Riêng một món nàng dặn kỹ hơn tất cả. Con ngựa.
Nàng dặn chồng: chớ có mua ngựa của mấy người buôn ngoài chợ. Phải tìm cho được ngựa của nhà nước, con nào bệnh, gầy, bị người ta thải ra rồi thì đổi lấy con ấy.
Nàng không nói vì sao. Nàng chỉ dặn thế.
Ôn Đạt làm đúng lời. Chàng dắt về một con ngựa xương xẩu, lông xơ xác, bước đi còn loạng choạng. Nếu cả nhà nhìn thấy nó hôm đầu tiên ấy, chắc cũng sẽ lắc đầu.
Từ hôm đó, công chúa nuôi nó. Sáng cho ăn, chiều cho ăn, ngày nào cũng vậy. Mấy hôm đầu chẳng thấy gì khác. Rồi bộ xương sườn của nó mờ dần đi. Rồi bộ lông lên nước. Rồi bốn cái chân vốn run rẩy bắt đầu đứng thật vững, và con ngựa bị thải ngày nào không còn dấu vết gì nữa.
Người Cao Câu Ly có một cái lệ. Cứ vào mùa xuân, đúng ngày mùng ba tháng ba, cả nước lại kéo về gò Lạc Lãng mở một cuộc săn. Lợn rừng và hươu nai săn được đem tế Trời, tế thần núi và thần sông.
Ngày ấy tới. Nhà vua thân hành ra săn. Quần thần đi theo. Quân sĩ năm bộ đi theo.
Trong đám ngựa đông nghịt ấy có một con ngựa lạ, không ai nhận ra là ngựa nhà nào.
Cuộc săn mở màn. Đoàn người ruổi tới đâu, con ngựa lạ cũng đã ở phía trước tới đó. Không phải một lần may mắn. Lần nào cũng vậy. Đến lúc kiểm lại số thú săn được, phần của người cưỡi con ngựa ấy nhiều hơn hẳn, mà chẳng ai đuổi kịp.
Nhà vua cho gọi người ấy tới, hỏi một câu hết sức bình thường: nhà ngươi tên gì.
Đến đây thì cả nhà đã đoán ra rồi.
Câu trả lời chỉ có hai tiếng. Ôn Đạt.
Nhà vua sững người. Cái câu ông từng nói không biết bao nhiêu lần trong điện, nói cho vui, nói để dỗ một đứa bé hay khóc, bây giờ đang đứng ngay trước mặt ông, mặc áo đi săn, tay còn cầm cương một con ngựa.
Ít lâu sau, khi đất nước phải giữ vùng biên, chàng xin đi ở hàng trước nhất. Đến lúc luận công, không một người nào không đặt tên Ôn Đạt lên trên hết.
Nhà vua khen mãi, rồi nói ra một câu. Đây là rể của ta.
Lần này ông không nói đùa. Ông cho sửa soạn đủ lễ, đón chàng rể nghèo ngày nào về, ban cho tước đại huynh. Về sau, Ôn Đạt trở thành một vị tướng mà cả nước Cao Câu Ly nhớ tên, và người Hàn Quốc còn nhắc mãi tới bây giờ.
Nghĩ lại thì mọi chuyện bắt đầu từ một câu nói cho vui.
Một ông vua có một câu quen miệng, hễ con gái khóc là ông đem ra dỗ. Ông nói nhiều đến mức chính ông cũng không còn nghe ra mình đang nói gì.
Cả cung điện ngày ấy ai cũng thuộc câu đó. Nhưng chỉ có đúng một người nghe nó tới cùng, và cất nó đi như cất một lời hứa. Người ấy là cô bé hay khóc nhất trong cung.