Tai vua Cảnh Văn dài như tai lừa
Gió đi qua một bụi tre thì kêu lên một thứ tiếng rất riêng.
Không giống tiếng gió trên hàng xoan, cũng không giống tiếng gió trong rặng phi lao. Thân tre cao và rỗng, cây nọ chạm cây kia thì kêu cốc cốc. Lá tre thì mảnh, cọ vào nhau nghe rào rào như ai đó đang thì thầm rất nhanh. Đứng cạnh một bụi tre lúc chiều muộn, nhiều người có chung một cảm giác kỳ lạ. Hình như tre không chỉ kêu. Hình như tre đang nói. Nói một câu gì đó, gần thành lời rồi lại tan mất trong gió.
Người Hàn Quốc có hẳn một câu chuyện để giải thích cái tiếng ấy. Và chuyện bắt đầu từ một ông vua có thật.
Chuyện xảy ra ở nước Tân La, tiếng Hàn gọi là Silla, một vương quốc rất cũ ở phía đông nam bán đảo Triều Tiên, kinh đô nằm đúng chỗ ngày nay là thành phố Gyeongju. Ông vua trong chuyện tên là Cảnh Văn, người Hàn gọi là Gyeongmun, vị vua thứ bốn mươi tám của Tân La, trị vì từ năm tám trăm sáu mươi mốt đến năm tám trăm bảy mươi lăm. Chừng ấy là phần lịch sử. Phần còn lại thì người già vẫn kể, và hơn bảy trăm năm trước đã có một nhà sư ngồi chép nó lại vào cuốn Tam quốc di sự, để chuyện khỏi mất.
Trước khi làm vua, ông chỉ là một chàng trai tên Ưng Liêm, tiếng Hàn đọc gần như Eungnyeom.
Năm mười tám tuổi, chàng được chọn đứng đầu một nhóm thanh niên của Tân La gọi là hoa lang. Đó là những chàng trai được rèn cả chữ lẫn võ, quanh năm đi khắp bốn phương, trèo núi, lội suối, ghé làng này rồi làng kia.
Đến năm chàng vừa tròn hai mươi, vua Hiến An mở tiệc trong cung và cho gọi chàng vào. Nhà vua hỏi một câu mà ai nghe cũng nghĩ mình biết cách trả lời. Đi khắp bốn phương như thế, con đã gặp chuyện gì lạ?
Câu hỏi ấy mở đường cho đủ thứ khoe khoang. Chàng có thể kể về con hổ gặp trên đèo, về cơn bão ngoài biển đông, về ngôi chùa treo lưng chừng vách đá. Cả gian tiệc hôm ấy hẳn cũng đang chờ nghe những thứ đó.
Nhưng chàng trai nói rằng con đã thấy ba người có nết đẹp.
Nhà vua bảo chàng kể ra.
Người thứ nhất, chàng nói, là người vốn ở trên kẻ khác, vậy mà chịu khiêm nhường ngồi xuống chỗ dưới. Người thứ hai là người giàu nứt đố đổ vách, vậy mà áo quần vẫn giản dị như người thường. Người thứ ba là người sinh ra đã sẵn quyền sang, vậy mà không bao giờ đem cái uy ấy ra dọa ai.
Ba chuyện lạ của chàng, hóa ra không có con hổ nào, cũng chẳng có cơn bão nào. Chỉ có ba người đã tự nguyện đứng thấp hơn chỗ mà họ hoàn toàn có quyền đứng.
Nghe xong, ông vua già ngồi im một lúc. Rồi nước mắt ông rơi xuống lúc nào không hay. Ông biết mình vừa gặp một người hiền.
Ít lâu sau, vua Hiến An lâm bệnh nặng. Ông lại không có con trai nối ngôi. Thế là chàng trai từng kể chuyện ba người tốt bụng năm nào bước lên ngai vàng, thành vua Cảnh Văn.
Đến đây thì chuyện rẽ sang một ngả không ai ngờ tới.
Truyền thuyết nói rằng vừa lên ngôi xong, đôi tai của nhà vua bỗng dài ra. Dài mãi, dài mãi, cho tới khi trông y hệt hai cái tai lừa. Chuyện một ông vua có tai lừa thì không phải chỉ xứ Hàn mới có. Mãi tận Hy Lạp xa xôi, người ta cũng kể về vua Midas với đôi tai đúng như vậy.
Trong cung Tân La, không một ai hay biết. Hoàng hậu không biết. Người hầu cận không biết. Quan lại vào chầu mỗi sáng cũng không biết, vì lúc nào nhà vua cũng đội mũ.
Chỉ có đúng một người biết, là bác thợ làm mũ cho vua.
Ngày ấy vua và quan đội một loại mũ vải riêng, muốn vừa đầu thì phải có người đo, người khâu, người sửa. Bác thợ ấy là người duy nhất trong cả nước được phép nâng chiếc mũ lên khỏi đầu nhà vua. Cho nên bác cũng là người duy nhất nhìn thấy.
Lần đầu nhìn thấy, chắc bác giật mình đến đứng tim. Nhưng bác không kêu lên một tiếng nào. Bác cúi đầu, đo cho xong, khâu cho khéo, rồi xin phép lui ra.
Và bác giữ kín chuyện ấy suốt cả một đời.
Cả nhà cứ hình dung xem điều đó khó tới mức nào. Suốt mấy chục năm, hẳn đã có hàng nghìn buổi chiều bác ngồi uống trà với hàng xóm, hàng nghìn lần người ta hỏi bác vào cung thì thấy những gì. Lần nào bác cũng chỉ cười, rồi nói sang chuyện đâu đâu. Một điều lạ lùng đến thế mà nuốt xuống, nuốt hoài, nuốt cho tới khi tóc bạc.
Rồi bác già đi. Rồi bác đau nặng, và biết mình sắp đi xa.
Có lẽ điều bác sợ nhất lúc ấy không phải là chết. Điều bác sợ là mang theo một câu chưa từng được nói ra lần nào.
Thế là bác gượng dậy, chống gậy đi ra khỏi làng, tới rừng tre sau chùa Đạo Lâm, ngôi chùa mà người Hàn gọi là Dorimsa. Bác đi vào sâu, rồi sâu nữa, tới một chỗ chắc chắn không có bóng người. Bác nhìn quanh một lượt cho yên tâm. Rồi bác quay mặt vào bụi tre, hít một hơi thật dài, và hét lên cái câu bác đã cất trong lòng gần trọn một kiếp người.
Tai vua ta như tai lừa.
Hét xong, bác thấy nhẹ bẫng cả người. Bác lặng lẽ về nhà, và ít lâu sau thì mất.
Nhưng câu nói ấy thì ở lại trong rừng tre.
Từ hôm đó, hễ gió thổi qua chùa Đạo Lâm là cả rừng tre lại rào rào lên đúng một câu. Tai vua ta như tai lừa. Gió mạnh thì tre nói to. Gió nhẹ thì tre nói nhỏ. Người đi ngang đứng sững lại, nghe cho rõ, rồi về kể cho người khác. Chẳng bao lâu, điều mà suốt mấy chục năm chỉ đúng một người biết đã thành điều cả vùng đều nghe.
Nhà vua nghe tin thì buồn. Không phải cái giận của người bị xúc phạm, mà là cái buồn của người bị lộ mất đúng thứ mình xấu hổ nhất.
Có một điều đáng để ý ở đây. Ông không đi tìm bác thợ làm mũ, vì bác đã mất rồi. Ông cũng không bắt ai, không phạt ai. Ông chỉ làm một việc rất người: ông cho chặt hết rừng tre, rồi trồng vào chỗ ấy một loài cây khác, cây sơn thù du.
Cây mới trồng xuống. Rừng tre không còn nữa.
Rồi một hôm gió lại về.
Và gió vẫn nói. Chỉ có điều lần này câu nói ngắn hơn. Rừng cây mới không kêu tai vua ta như tai lừa nữa. Nó chỉ rì rào một câu cụt ngủn.
Tai vua ta dài.
Chùa Đạo Lâm bây giờ không còn. Rừng tre sau chùa cũng không còn. Nhưng tre thì ở đâu cũng có, và gió thì chưa bao giờ chịu đứng yên.
Cho nên từ đó tới giờ, hễ đứng trước một bụi tre lao xao, người ta lại nhớ chuyện này. Cả nhà để ý mà xem, gió chẳng bao giờ nói trọn được một câu cho thật rõ. Nó cứ lấp lửng, cứ gần thành lời rồi lại tan. Vậy mà bao nhiêu đời nay người ta vẫn tin rằng cái gì có thật thì sớm muộn cũng tìm được một cách để được nói ra. Có khi nhờ một người dám nói. Có khi chỉ nhờ một cơn gió đi ngang một bụi tre.