Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Ba hạt vải và cây vải tổ Thanh Hà

0:000:00

Cây vải này có con, có cháu.

Đứng bên cây là một cây vải con, rồi một cây vải cháu, cả hai cũng đã già. Còn chính cây có con có cháu ấy, người làng Thúy Lâm gọi là cây vải tổ.

Cây vải tổ đứng trong một khu vườn nhà ở làng Thúy Lâm, trên đất Thanh Hà, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Lớp vỏ trên thân cây xù xì, sần sùi. Từ thân, rất nhiều cành tỏa ra mọi phía, đan lại thành một vòm lá rộng. Vòm lá ấy che kín cả một khoảnh vườn, trông giống một chiếc ô lớn mở sẵn giữa trời. Năm nào đến mùa, cây cũng ra quả.

Chiếc ô xanh ấy đã bao nhiêu tuổi, mỗi người tính một kiểu. Có người nói cây đã gần hai trăm năm tuổi. Có người lại tính theo đời của người gieo hạt, và ra một con số ít hơn. Cách tính nào cũng cho thấy cây đã sống hơn một trăm năm. Đến năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam xác định cây vải tổ là cây vải cao tuổi nhất cả nước.

Hơn một trăm năm trước, ở làng có cụ Hoàng Văn Cơm. Cụ là người buôn hoa quả, sinh năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám ngay trên đất làng Thúy Lâm. Nghề buôn đưa cụ đi đây đi đó, có những chuyến ra tận Hải Phòng.

Tương truyền, có lần ở Hải Phòng, cụ Cơm dự một bữa tiệc của một gia đình người Hoa. Có người kể đó là một tiệc cưới. Trong bữa ấy, cụ được ăn một thứ quả vải thơm hơn, ngọt hơn hẳn những quả vải cụ từng biết. Ăn xong, cụ không bỏ hạt đi. Cụ giữ lại ba hạt, mang về Thúy Lâm, gieo xuống đất trong vườn nhà. Giống vải ấy, người ta cho rằng, vốn từ Thiều Châu bên Trung Quốc mà ra, nên mới có cái tên vải thiều.

Chuyện trong làng kể tiếp rằng cả ba hạt đều nảy mầm. Ba mầm vải non xanh nhú lên khỏi mặt đất. Nhưng rồi chỉ một cây sống. Hai mầm còn lại không lớn lên được. Người ta bảo, hồi ấy người trong nhà chưa biết giống vải này quý đến thế, nên cũng chưa chăm bón mấy cây non cho chu đáo.

Riêng cây vải còn lại thì cứ thế lớn lên. Nó vươn cành, ra lá, năm này qua năm khác. Rồi đến một mùa, trên cành cây ấy lủng lẳng những chùm quả đầu tiên.

Khi cây vải trong vườn đã lớn, gia đình cụ Cơm không giữ giống vải ngon cho riêng nhà mình. Họ gieo thêm hạt, và còn nhân cây từ chính cành của nó, để các nhà trong làng cũng có cây mà trồng.

Người lớn trong nhà chọn một cành trên cây, đắp quanh cành một bầu đất rồi bó lại cho chặt. Cành vẫn còn trên cây, vẫn được cây nuôi. Trong khi đó, bên trong bầu đất, rễ non âm thầm nhú ra. Đợi đến khi rễ đã mọc, người lớn mới cắt cành xuống, mang đi trồng. Thế là từ một cành vải, một cây vải mới bắt đầu sống trong một mảnh vườn khác.

Cứ như vậy, giống vải từ khu vườn nhà cụ Cơm đi sang vườn nhà này, vườn nhà kia trong làng. Người Thanh Hà coi cây vải tổ là cái nôi của giống vải thiều trồng trên đất Việt Nam.

Năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, người làng Thúy Lâm còn mang vải thiều lên tận Phủ Chủ tịch biếu Bác Hồ, và được Bác khen là giống vải quý, dặn bà con trồng thêm.

Cả nhà hãy hình dung từ trên cao nhìn xuống. Ba con sông lớn vòng quanh vùng đất Thanh Hà: sông Thái Bình, sông Rạng và sông Văn Úc. Bên trong, những con sông nhỏ và những con lạch chảy len giữa các làng, các vườn. Một trong những dòng sông nhỏ ấy mang tên sông Hương. Sông Hương nối làng với làng, nối vườn với vườn. Con sông ấy vừa đưa nước về tưới cho vườn, vừa là đường cho thuyền bè qua lại.

Vải thiều mọc dọc theo sông Hương, trên lớp đất phù sa màu mỡ. Ngày trước, khi chưa có đê, cứ đến mùa mưa là nước lũ lại tràn lên ruộng vườn. Nước rút đi, để lại trên mặt đất một lớp phù sa mới. Và giữa những vạt đất ấy, ở làng Thúy Lâm, cây vải tổ vẫn xòe chiếc ô xanh của mình.

Sang xuân, đầu những cành vải trổ ra từng chùm hoa nhỏ li ti, màu vàng nhạt. Người trồng vải nhìn những chùm hoa ấy mà mừng, vì hoa ra như thế là dấu hiệu của một mùa quả tốt.

Hoa vải nở thì ong về. Ở Thanh Hà, người ta nuôi ong để lấy mật từ hoa vải. Mật ong hoa vải có màu vàng nhạt, gần giống màu những chùm hoa, lại phảng phất mùi thơm của hoa.

Rồi hoa tàn, những quả non bắt đầu đậu trên cành. Đầu hè, khoảng tháng năm, tháng sáu, vải chín. Lúc ấy, ở khắp các vườn ven sông, người lớn bắt đầu hái quả. Đứng xa nhìn lại, chỉ thấy những chùm quả hồng tía thấp thoáng giữa vòm lá xanh, và bóng người đang hái lần lượt từng chùm.

Vỏ vải thiều có màu mà người ta ví như tấm lụa hồng ánh sắc tía. Người lớn bóc lớp vỏ ra, bên trong lộ cùi vải trắng trong như thủy tinh. Cùi dày, vị ngọt, mùi thơm. Hạt vải nằm ở giữa, nhỏ xíu. Hạt bé thế thôi, mà theo chuyện làng kể, cây vải tổ cũng bắt đầu từ một hạt như vậy.

Cũng vào mùa ấy, khách phương xa tìm về làng Thúy Lâm, để được đứng dưới bóng cây vải mọc lên từ câu chuyện ba hạt vải. Có những đoàn khách còn ngồi thuyền nhỏ, men theo những dòng sông trong vùng, ngắm vườn vải hai bên bờ. Người nhà cụ Cơm vẫn ở bên, chăm nom cho cây.

Mùa vải qua đi, những chùm quả cuối cùng đã rời cành. Suốt mùa thu, rồi suốt mùa đông, những tán vải vẫn tròn và xanh, tán cây vải tổ cũng vậy.

Ba hạt vải ngày ấy, theo chuyện làng kể, chỉ một hạt thành cây. Và hôm nay, bên cây ấy vẫn có một cây vải con, một cây vải cháu: có con, có cháu.

Câu chuyện liên quan