Quan Triều hay là chiếc áo tàng hình
Ở Cao Bằng, giữa vùng núi non trùng điệp, có một ngôi đền nhỏ nép bên sườn đồi. Khói hương vẫn lên đều mỗi sớm. Người quanh vùng đến thắp nén nhang, cúi đầu, gọi người được thờ trong đền bằng hai tiếng thân kính: Quan Triều.
Lạ một điều. Chữ "Quan" thường để gọi người quyền cao chức trọng. Vậy mà trong truyện cổ tích người Việt mình, Quan Triều ngày trước chỉ là một chàng đánh cá nghèo, áo vá vai, chân lấm bùn. Vì sao một người đánh cá lại được dân lập đền, được gọi là Quan? Cả nhà ngồi xuống đây, nghe ông bà kể lại từ đầu.
Ngày xưa, ở miền núi Cao Bằng, có chàng trai tên Triều sống bằng nghề chài lưới bên sông. Nhà chàng nghèo, nhưng bụng dạ thì rộng như lòng sông. Mỗi lần kéo lưới được mớ cá, Triều thường đem ra chợ đổi lấy gạo, rồi san bớt cho những nhà đang thiếu ăn trong xóm. Có hôm chàng nhịn cả phần mình, chỉ mong nồi cơm nhà bên kịp có khói bốc lên. Người trong vùng ai cũng quý. Về sau Triều sang vùng Thái Nguyên làm ăn, nhưng nết hiền lành ấy thì chàng mang theo, không bỏ lại bến sông cũ.
Một buổi chiều gió lạnh, Triều gặp một ông cụ ăn xin ngồi run rẩy dưới gốc cây bên đường. Áo cụ mỏng, người cụ co ro. Triều chẳng nghĩ ngợi lâu. Chàng cởi ngay tấm áo đang mặc, khoác lên vai cụ, rồi lẳng lặng đi tiếp, mặc cho gió táp vào lưng mình.
Ít lâu sau, một hôm đi ngang chân núi, Triều bỗng nghe tiếng đàn vẳng ra từ trên cao. Tiếng đàn trong veo, lạ lùng, như gọi bước chân người ta lần theo. Chàng leo dốc, vạch lá, đi mãi lên. Đến một khoảng bằng lưng chừng núi, chàng sững lại. Ngồi ung dung trên phiến đá mà gảy đàn, chính là ông cụ ăn xin hôm nọ. Nhưng lần này cụ không còn co ro nữa. Mắt cụ sáng, râu tóc bạc phơ, dáng ngồi thong dong như mây trên đỉnh núi.
Ông cụ mỉm cười, bảo rằng cụ vốn là một vị tiên, xuống trần để tìm người có lòng. Tấm áo Triều cho hôm trước, cụ đã nhận. Nay cụ có một món trao lại. Cụ đưa cho chàng một chiếc áo trông cũ kỹ bình thường, rồi dặn khẽ: con mặc áo này vào thì sẽ tàng hình, không một ai nhìn thấy con nữa. Hãy dùng nó cho phải lẽ, giúp người ngay, đừng để lòng tham dẫn lối. Nói xong, tiếng đàn ngân một nhịp cuối, rồi cả người cụ lẫn phiến đá đều nhòa vào sương núi. Chỉ còn Triều đứng đó, tay ôm chiếc áo, ngực đập rộn ràng.
Triều mặc thử. Chàng cúi nhìn thì không còn thấy tay chân mình đâu nữa. Chàng bước ra bờ suối soi bóng, mà mặt nước chỉ có mây trời, không có chàng. Kỳ diệu thật.
Từ đó, Triều đi khắp nơi với chiếc áo tiên. Nhưng chàng không dùng nó để làm giàu cho riêng mình. Bấy giờ trong vùng có mấy nhà giàu và mấy ông quan tham, quen thói thu tô nặng, vơ vét của dân, chất lúa đầy kho trong khi ngoài xóm nhiều nhà treo niêu chịu đói. Cái họ có, phần lớn là cái họ đã lấy quá tay của người nghèo. Triều khoác áo tàng hình, lặng lẽ vào những kho lúa chất ngất ấy, lấy ra đúng cái phần đã bị vơ vét, rồi đem chia lại cho các nhà đang đói.
Sáng ra, người nghèo mở cửa thấy thúng gạo ai để sẵn trước thềm, ngơ ngác mà mừng rơi nước mắt. Chàng chẳng giữ cho mình lấy một hạt. Niềm vui của chàng chỉ là thấy những mái nhà nghèo lại có khói cơm bay lên. Người ta đồn nhau rằng có một vị tiên vô hình chuyên đi giúp kẻ khó, trị kẻ tham. Mấy ông quan gian ăn không ngon, ngủ không yên. Họ cắt lính canh gác ngày đêm, mà lúa trong kho vẫn cứ nhẹ đi, chẳng ai thấy bóng người nào.
Nhưng chiếc áo thần cũng có một chỗ yếu, mà chính Triều cũng không ngờ. Một lần bị đuổi gấp, chàng chạy vướng vào bụi gai, tấm áo rách toạc một mảng. Về nhà, Triều lấy một miếng vải khác vá lại chỗ rách. Chàng đâu biết rằng phép tiên chỉ nhập vào tấm áo cũ, còn miếng vá mới thì không tàng hình theo. Từ đó, mỗi khi chàng khoác áo đi, cả người biến mất, riêng miếng vá cứ hiện ra, lơ lửng trôi trong không trung như một mảnh vải biết bay.
Bọn lính tinh ý nhận ra điều đó. Chúng không đuổi theo người nữa, mà cứ chăm chăm nhìn cái mảnh vá trôi trong gió. Rồi chúng lặng lẽ bủa lưới, giăng bẫy quanh nơi mảnh vá hay xuất hiện. Một đêm, Triều lọt vào ổ mai phục. Người ta chẳng thấy chàng, nhưng thấy miếng vá mắc cứng trong lưới. Thế là chàng bị bắt, bị giam vào ngục tối, chờ ngày xét xử.
Tưởng chuyện đến đây là hết. Nhưng giữa lúc ấy, ngoài biên có giặc kéo sang, tràn vào cướp phá xóm làng. Quân giặc đông, thế mạnh, dân trong vùng nháo nhác bồng bế nhau chạy loạn. Triều ngồi trong ngục nghe tiếng kêu khóc vọng vào, lòng như lửa đốt. Chàng xin được thả ra để cứu dân. Vua đang lúc rối ren, đành trao lại cho chàng tấm áo cũ và mở cửa ngục.
Triều khoác áo tàng hình, len vào giữa vùng giặc đang chiếm. Chàng không cần gươm giáo. Chàng luồn vào tận nơi giặc cất lương thảo vừa cướp được của dân, âm thầm tháo dỡ, chuyển trả về cho các làng. Chàng vô hình đi trong đêm, gõ cửa từng nhà còn kẹt lại, dẫn người già trẻ nhỏ theo lối tắt băng rừng ra chỗ an toàn. Rồi chàng bày ra đủ trò khiến trại giặc rối tung: lều trại tự dưng đổ sập, đuốc tự dưng tắt lịm, tiếng động nổi lên khắp nơi mà chẳng thấy một ai. Giặc hoảng sợ, ngỡ vùng đất này có thần giữ làng, bảo nhau rằng nơi đây đánh không nổi. Cuối cùng chúng kéo nhau tan tác rút về bên kia biên, không dám bén mảng sang nữa.
Dân làng giữ được nhà cửa, ruộng vườn, không mất một mạng người. Ai cũng nhớ ơn chàng đánh cá vô hình. Vua nghe chuyện, cảm phục tấm lòng và cái tài của Triều, bèn phong cho chàng chức tước, ban cho ruộng đất, lại gả con gái cho. Chàng trai áo vá vai ngày nào, nay được người người kính trọng gọi là Quan Triều. Nhưng dù đã làm quan, chàng vẫn giữ nếp cũ: no ấm thì nhớ chia cho người đói, có phần hơn thì nhớ tới người còn thiếu.
Chàng sống trọn đời hiền lành như thế, rồi hóa. Dân vùng Cao Bằng nhớ ơn, lập đền thờ, tôn chàng là Quan Triều. Ngôi đền ấy nay vẫn còn, nép bên sườn núi, khói hương vẫn lên đều mỗi sớm. Ai đi qua, nghe kể lại chuyện chiếc áo tàng hình, lại khẽ mỉm cười. Bởi phép lạ nhất trong truyện, hóa ra không phải là chiếc áo biến người ta thành vô hình. Phép lạ nhất là một tấm lòng cứ lặng lẽ cho đi, đến mức người nghèo chẳng kịp nhìn thấy mặt ân nhân, chỉ thấy thúng gạo ai đã để sẵn từ lúc nào trước thềm nhà mình.