Thất Phủ miếu
Cả nhà biết không, ở ngay trung tâm Vĩnh Long có một công trình mà người dân địa phương gọi bằng ba bốn cái tên khác nhau, tùy vào ai nói và thời điểm nào.
Người hay ghé cúng gọi là Chùa Ông. Tài liệu di tích ghi là Thất Phủ miếu. Người Phúc Kiến gọi là Vĩnh An cung. Bảng quảng bá du lịch một số nơi ghi là Hội Quán Phúc Kiến.
Tất cả đều đang nói về cùng một nơi: di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia tọa lạc tại số hai mươi bốn đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Vĩnh Long.
Cả nhà hãy tạm dừng ở ngoài cổng và nghe câu chuyện về nguồn gốc của nơi này.
Vào đời Thanh, nhiều người Hoa từ bảy phủ của các tỉnh Trực Lệ, Phước Kiến và Quảng Đông đã vượt biển sang Việt Nam lập nghiệp. Bảy phủ đó là Ninh Ba, Phước Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu và Quỳnh Châu.
Họ lập Hội Thất Phủ và xây miếu thờ chung. Thời ấy chợ Vĩnh Long là khu vực bến thuyền tấp nập, người Hoa chọn vàm sông Long Hồ để đặt hội quán.
Đến thời Pháp thuộc, cộng đồng người Hoa phân hóa: người Quảng Đông và Triều Châu tách ra lập bang hội riêng.
Những người Phúc Kiến còn lại, năm một nghìn tám trăm bảy mươi hai, tái thiết miếu Thất Phủ và đổi tên thành Vĩnh An cung, dùng làm hội quán của bang mình.
Giai đoạn xây dựng và trang trí kéo dài từ một nghìn tám trăm chín mươi hai đến một nghìn chín trăm linh chín, với nhóm thợ chuyên từ Phúc Kiến sang, đứng đầu là công trình sư tên Hà Tạo.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng Thất Phủ miếu là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
Bây giờ cả nhà nhìn lên mái và mặt tiền. Đây là kiểu "nội công ngoại quốc": phía trước là tiền đường, phía sau là chính điện, hai bên có Đông sương và Tây sương, các khu nhà nối nhau bằng những khoảng sân lấy sáng.
Người Hoa gọi những sân đó là thiên tĩnh, và những nhà nối được gọi là "hà cầu", như cầu bắc qua ao. Mái ngói âm dương, chân mái có ngói tráng men xanh, mái cong và phần mái gian giữa nhô cao hơn hai bên.
Diện tích toàn bộ công trình khoảng tám trăm mét vuông.
Bước vào trong, cả nhà sẽ gặp ba khánh thờ chính. Ở giữa là Quan Thánh Đế Quân, tức Quan Công, biểu tượng của lòng trung nghĩa.
Bên tả là Thiên Hậu Thánh Mẫu, nữ thần bảo hộ người đi biển và người đi xa. Bên hữu là Phước Đức Chánh Thần, thần đất và thần tài.
Đây là bộ ba tín ngưỡng phổ biến trong hội quán người Hoa Nam Bộ, phản chiếu nhu cầu của người xa quê. Họ cần sự bảo vệ khi đi biển, cần đất lành để an cư và cần may mắn trong làm ăn.
Cả nhà đặc biệt chú ý đến hệ thống chạm khắc gỗ trong nội cung. Các cấu kiện như vì, xuyên, trính, con kê đều được chạm hình voi, sư, lân, chậu hoa và chùm trái.
Bao lam, hoành phi và liễn đối sơn son thếp vàng tạo nên một không gian thị giác rất dày đặc theo phong cách mỹ thuật Hoa Nam.
Có một chi tiết thú vị mà tài liệu địa phương còn ghi lại. Bức hoành "Quan Thánh Phu Tử" trong miếu từng được đưa đi triển lãm ở hội chợ các nước thuộc địa tại Marseille của Pháp, vào năm một nghìn chín trăm hai mươi hai, và đạt huy chương đồng.
Một tấm hoành sơn son thếp vàng làm ra ở vùng đất Vĩnh Long đã vượt biển sang tận trời Âu để được vinh danh.
Nhiều người quen miệng gọi nơi này là Chùa Bà Thiên Hậu, nhưng đó chưa thật đúng. Thiên Hậu Thánh Mẫu có được thờ ở đây, song chỉ trong một khánh thờ bên tả, chứ không phải một ngôi chùa Bà riêng biệt.
Đây là hội quán của người Hoa, và đúng hơn cả vẫn là những cái tên Thất Phủ miếu, Chùa Ông hay Hội quán Phước Kiến.
Cả nhà thử hình dung mà xem. Hơn một thế kỷ trước, những người Phúc Kiến xa quê đã ngồi giữa khói nhang nơi này, ngẩng lên nhìn đàn voi, sư, lân chạm trên gỗ, rồi cầu cho một chuyến đi biển bình an.
Hôm nay, dưới mái ngói âm dương cong vút bên vàm sông Long Hồ, khói nhang ấy vẫn còn vương, và lời cầu xưa như chưa từng tắt.