Chùa Bổ Đà
Có những ngôi chùa người ta đến để chiêm ngưỡng. Và có những ngôi chùa người ta bước vào rồi lặng đi, không vì sự hoành tráng, mà vì cảm giác như đang bước vào một thế giới khép kín, yên tĩnh và rất khác với bên ngoài.
Chùa Bổ Đà là ngôi chùa kiểu sau.
Tên đầy đủ của chùa chính là Tứ Ân Tự. Người địa phương gọi tắt là chùa Bổ hoặc chùa Bổ Đà. Chùa tọa lạc trên phía bắc chân núi Phượng Hoàng, thuộc thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, vùng Việt Yên, Bắc Giang cũ, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh sau sáp nhập hành chính. Cách trung tâm Hà Nội khoảng năm mươi cây số.
Theo Cơ sở dữ liệu ngành Du lịch, chùa có từ thời Lý thế kỷ mười một và được xây lại vào đầu thế kỷ mười tám. Năm hai nghìn mười sáu, chùa được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Điều làm cho Bổ Đà khác biệt bắt đầu từ cách chùa được xây dựng.
Cục Di sản văn hóa mô tả bố cục kiến trúc của Bổ Đà theo nguyên tắc mà người ta gọi là nội thông ngoại bế. Bên ngoài thì kín. Bên trong thì thông. Các tòa nhà đan xen nhau, ngăn cách bằng cổng nhỏ và tường đất nện. Tường đất nện. Không phải tường gạch đỏ, không phải bê tông. Tường được nện từ đất và vôi, có màu nâu xám, ấm và cũ. Mười sáu tòa nhà, chín mươi hai gian. Khi đi trong khuôn viên chùa, cảm giác là đang đi trong một mê trận nhỏ, mỗi bước qua một cổng là lại bước vào một không gian khác nhau.
Cả nhà biết chùa Bổ Đà thờ gì không? Theo Cục Di sản văn hóa, chùa là chứng tích của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên, tức là sự hội tụ giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Trong hệ thống tượng thờ, cả nhà có thể thấy Phật, Lão Tử và Khổng Tử cùng hiện diện. Đây là cách tổ tiên người Việt đặt ba dòng tư tưởng lớn vào chung một không gian, không mâu thuẫn nhau.
Bây giờ đến điều quý giá nhất của Bổ Đà.
Chùa lưu giữ bộ mộc bản kinh Phật khắc trên gỗ thị. Cục Di sản văn hóa ghi nhận hệ thống này gồm một nghìn chín trăm ba mươi lăm bản, mười tám bộ kinh sách chính. Tất cả được khắc vào thời Lê Trung Hưng, niên hiệu Cảnh Hưng, tức khoảng từ năm một nghìn bảy trăm bốn mươi đến năm một nghìn bảy trăm tám mươi sáu. Mỗi tấm ván gỗ có kích thước trung bình năm mươi xen-ti-mét dài, hai mươi lăm xen-ti-mét rộng, hai phẩy năm xen-ti-mét dày. Bộ mộc bản là bảo vật quốc gia.
Gỗ thị là loại gỗ cứng, chắc và ít cong vênh. Người thợ khắc xưa đã chọn đúng loại vật liệu để kinh sách tồn tại qua hàng trăm năm. Từng chữ được đục tay, từng trang được in bằng cách phủ mực lên ván rồi ép giấy. Đây là kỹ thuật in ấn của người Việt trước khi có máy in hiện đại.
Mộc bản Bổ Đà được canh giữ cẩn mật suốt bao đời. Đây là bảo vật không thể thay thế, một kho chữ thiêng mà cha ông đã gửi gắm vào từng thớ gỗ.
Sau khu mộc bản, cả nhà đến vườn Tháp.
Vườn Tháp Bổ Đà có diện tích gần tám nghìn mét vuông. Trong đó có một trăm mười ngọn tháp. Chín mươi bảy tháp trong số ấy là nơi lưu giữ xá lị của một nghìn hai trăm mười bốn bậc cao tăng thuộc thiền phái Lâm Tế, theo Cục Di sản văn hóa. Đây là con số đáng suy nghĩ: hơn một nghìn hai trăm người tu hành đã sống, thực hành và viên tịch tại vùng đất này. Mỗi ngọn tháp là một cuộc đời. Mỗi viên gạch là một phần của một dòng truyền thừa.
Đây là không gian yên nghỉ của người tu, lặng lẽ giữa bóng cây, nơi thời gian như chậm lại để giữ gìn giấc ngủ của những đời tu hành đã khuất.
Lễ hội chùa Bổ Đà diễn ra từ ngày mười sáu đến mười tám tháng hai âm lịch hằng năm, gắn với không gian Quan họ vùng Kinh Bắc. Nếu cả nhà đến đúng dịp, trải nghiệm sẽ hoàn toàn khác, với cảnh rước, lễ bái và tiếng hát trong không khí núi rừng.
Chùa Bổ Đà không hào hoa. Nhưng Bổ Đà sâu. Những bức tường đất nện, những khối gỗ khắc kinh, những ngọn tháp đứng im trong bóng tối vườn cây. Tất cả cùng nói một điều: sự kiên nhẫn và sự truyền lưu có thể tồn tại rất lâu, nếu người ta đủ cẩn thận và đủ kính trọng.