Đền Bà Chúa Kho
Bắc Ninh có một ngôi đền mà cứ đến tháng Giêng âm lịch, dòng người từ khắp nơi đổ về đông đến nỗi cả con đường dẫn vào làng Cổ Mễ như không đủ rộng để chứa. Người ta đến để dâng hương, khấn vái và theo truyền thống dân gian là để cầu may mắn, tài lộc trong năm mới. Nơi đó là Đền Bà Chúa Kho.
Đền tọa lạc trên sườn núi Kho, khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh. Tên gọi đền Cổ Mễ cũng được dùng trong nhiều tài liệu chính thức. Năm một nghìn chín trăm tám mươi chín, đền được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Bảo tàng và Xúc tiến Du lịch Bắc Ninh ghi lại câu chuyện gắn với đền như sau. Truyền thuyết kể rằng vào năm một nghìn không trăm bảy mươi bảy, trong cuộc kháng chiến chống Tống trên chiến tuyến Như Nguyệt, vùng núi Kho, làng Cổ Mễ và Cầu Gạo được lựa chọn làm nơi đặt kho lương của quân Lý ở bờ nam sông Cầu. Bà Chúa Kho, một người phụ nữ tài giỏi, cai quản, sắp xếp sản xuất và tiếp tế lương thực, rồi hy sinh trong một lần tiếp tế cho quân. Dân lập đền thờ để tưởng nhớ.
Khi nghe câu chuyện này, cả nhà cần phân biệt rõ: đây là truyền thuyết tín ngưỡng được nguồn địa phương ghi lại. Có chiến tuyến Như Nguyệt năm một nghìn không trăm bảy mươi bảy là sự kiện lịch sử có thật, với vai trò của Lý Thường Kiệt là có thật. Nhưng nhân vật Bà Chúa Kho cụ thể trong câu chuyện là phần truyền thuyết mà cộng đồng đã xây dựng và lưu truyền, không phải hồ sơ sử học đã được kiểm chứng độc lập.
Đền được khởi dựng từ thời Lý dưới dạng miếu nhỏ gọi là miếu Cô Tiên. Thời Lê, Bà Chúa Kho được triều đình ban sắc phong thần với danh hiệu Chủ khố linh từ, có nghĩa là linh từ coi giữ kho. Đến thời vua Tự Đức triều Nguyễn, đền Cổ Mễ được trùng tu và mở rộng, hoàn thành năm một nghìn tám trăm năm mươi chín. Trong kháng chiến chống Pháp, đền bị phá hủy hoàn toàn. Sau đó đền được khôi phục qua nhiều giai đoạn, gần đây nhất là dự án bảo tồn tôn tạo gần năm mươi lăm tỷ đồng do tỉnh Bắc Ninh phê duyệt giai đoạn hai nghìn mười sáu đến hai nghìn mười tám.
Hiện tại đền có các hạng mục chính gồm Cổng Tam môn, Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, tòa Sơn Trang, Lầu Cô và Lầu Cậu. Bên trong còn lưu giữ ba bức đại tự và ba đôi câu đối sơn son thếp vàng. Tượng Bà Chúa Kho bằng gỗ, niên đại thời Nguyễn thế kỷ mười chín, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Bắc Ninh.
Hằng năm, ngày mười hai tháng Giêng âm lịch là ngày giỗ Bà Chúa Kho. Dân làng Cổ Mễ và khách thập phương tổ chức lễ dâng hương, sắp lễ vật và cúng bái. Đây là thời điểm đông khách nhất trong năm.
Nơi đây nổi tiếng với tục dân gian gọi là vay tiền Bà Chúa Kho đầu năm và trả lễ cuối năm. Nhiều người tin rằng đến cầu khấn, xin lộc Bà Chúa Kho thì công việc, buôn bán trong năm sẽ thuận lợi. Đây là thực hành tín ngưỡng dân gian đã tồn tại lâu đời ở vùng Kinh Bắc, gắn với quan niệm rằng người giữ kho năm xưa vẫn nghe thấy lời khấn của người đời sau.
Mỗi năm, cứ đến sáng ngày mười hai tháng Giêng, khói hương từ Đền Bà Chúa Kho lan ra cả sườn núi Kho. Tiếng chuông, tiếng trống, mùi nhang trầm hòa với tiếng người rì rầm khấn nguyện. Trong hậu cung, ba đôi câu đối sơn son thếp vàng vẫn còn đó, trầm lặng nhìn xuống những thế hệ nối tiếp nhau đến tìm chút bình yên và hy vọng.
Núi Kho, làng Cổ Mễ và ngôi đền thờ người phụ nữ huyền thoại ấy là một trong những nơi hiếm hoi mà lịch sử, truyền thuyết và đời sống tinh thần của con người Việt Nam hòa vào nhau thật khó phân biệt. Và có lẽ, ranh giới mờ đó chính là điều làm cho nó vẫn còn đang sống.