Chuyen.AIPlaylist
Ninh Bình

Chùa Cổ Lễ

0:000:00

Từ xa, ngôi chùa trông giống nhà thờ.

Đó không phải ảo giác. Đó là ý đồ kiến trúc.

Chùa Cổ Lễ, còn gọi là Thần Quang tự, nằm tại xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình, khu vực trước thuộc huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Đây là một trong những ngôi chùa đặc biệt nhất ở đồng bằng Bắc Bộ: không chỉ vì lịch sử lâu đời, mà còn vì kiến trúc dám phá vỡ mọi kỳ vọng của người lần đầu đặt chân đến.

Ngày mười một tháng Chín năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng Chùa Cổ Lễ là Di tích quốc gia đặc biệt. Trước đó, chùa đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích quốc gia từ năm một nghìn chín trăm tám mươi tám.

Theo tư liệu và truyền thuyết dân gian được Báo Nam Định dẫn lại từ nhiều thư tịch cổ, chùa có lịch sử hình thành từ thời Lý và gắn với Quốc sư Minh Không từ thế kỷ mười hai. Khi nhắc điều này, cần nói rõ đây là "theo truyền thuyết và tư liệu được dẫn lại", không phải kết quả khảo cổ độc lập.

Nhưng câu chuyện kiến trúc thì rất cụ thể và có thể nhìn thấy bằng mắt.

Tổng thể chùa trải theo trục đông tây. Điểm đầu tiên thu hút mắt là Tháp Cửu phẩm liên hoa: tháp hình bát giác, nền hình rùa, xây giữa hồ lớn, cao hai mươi sáu phẩy ba mươi mét, gồm mười một tầng. Bên trong có sáu mươi bốn bậc thang vòng quanh thân cột lên đỉnh, nơi đặt tượng A Di Đà bằng đồng. Khi đứng nhìn từ bên ngoài, tháp vươn lên giữa hồ nước như một cây bút đá khổng lồ.

Từ tháp đi qua cầu cuốn bắc qua hồ Chu Tước. Cục Di sản văn hóa ghi cầu được xây năm một nghìn chín trăm hai mươi mốt, trùng tu năm một nghìn chín trăm năm mươi tư và năm hai nghìn không trăm lẻ ba; cầu dài mười phẩy sáu mươi mét, rộng bốn mét và cuốn ba vòm. Hồ Chu Tước còn gọi là hồ A Nốc, thông với sông Cổ Lễ; vào mùa lễ hội, hồ là nơi neo đậu thuyền chải trước khi bơi.

Qua tam quan là sân gạch đỏ, rồi đến Hội quán Phật giáo, còn gọi là chùa Trình. Hội quán được dựng năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu trong phong trào chấn hưng Phật giáo, dùng làm nơi thuyết pháp và tổ chức đại lễ. Điều đó cho thấy Chùa Cổ Lễ không phải một di tích đóng băng trong quá khứ; nó vẫn là không gian sinh hoạt Phật giáo sôi động ngay từ đầu thế kỷ hai mươi.

Kế tiếp là Linh Quang tự, thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và hai vị đại khoa thời Trần là Đào Toàn Phú và Đào Sư Tích. Đây là điểm hiếm gặp: một không gian thờ Phật và thờ danh tướng trong cùng quần thể chùa.

Rồi là điểm nhấn kiến trúc lớn nhất: chùa Chính.

Cục Di sản văn hóa đánh giá chùa Chính có giá trị nghệ thuật độc đáo vì kết hợp kiến trúc cổ truyền dân tộc với kiến trúc Gô-tích của thánh đường Thiên Chúa giáo. Vật liệu xây dựng là gạch, vôi, cát và mật mía. Từ xa trông giống nhà thờ, nhưng vào trong thì rõ là chùa. Hệ vòm cuốn cao, thượng điện rộng, và phía sau là cung Địa Tạng với tám mươi hai tấm bia đá và tượng Thập điện diêm vương hai bên. Sự hòa trộn đó không phải nhầm lẫn hay bắt chước, mà là biểu hiện của một thẩm mỹ kiến trúc Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi: tự tin tiếp thu mà không đánh mất bản sắc.

Cuối tuyến là gác chuông Kim Chung Bảo Các. Cục Di sản văn hóa ghi gác chuông cao mười ba mét, diện tích một trăm ba mươi bốn mét vuông, có ba tầng. Tầng hai treo chuông đồng nặng chín nghìn kilôgam đúc năm hai nghìn không trăm lẻ ba. Tầng ba treo chuông niên hiệu Cảnh Thịnh thứ bảy, tức năm một nghìn bảy trăm chín mươi chín, nặng ba trăm kilôgam. Hai chiếc chuông, hai thế kỷ khác nhau, treo cùng một gác. Đó là lớp thời gian rất đặc trưng của Chùa Cổ Lễ.

Câu chuyện cuối cần nhắc là sự kiện ngày hai mươi bảy tháng Hai năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy. Tại chùa Cổ Lễ, dưới sự chủ trì của Hòa thượng Phạm Thế Long, hai mươi bảy vị tăng ni làm lễ phát nguyện, cởi áo cà sa và lên đường tham gia kháng chiến. Báo Nam Định cho biết từ năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy đến năm một nghìn chín trăm tám mươi mốt, tổng cộng ba mươi lăm vị tăng ni khoác chiến bào, mười hai người hy sinh.

Đó là phần không dễ thấy qua mái vòm hay gạch mật mía, nhưng là phần khiến Chùa Cổ Lễ không chỉ đẹp, mà còn sống.

Câu chuyện gần đây