Chùa Keo Hành Thiện
Gần một nghìn năm trước, có một ngôi chùa mọc lên ở vùng đất ven sông Hồng mà người xưa gọi là Giao Thủy. Theo Cục Di sản văn hóa, năm một nghìn không trăm sáu mươi mốt, đời vua Lý Thánh Tông, Thiền sư Dương Không Lộ đã cho dựng ngôi chùa mang tên Nghiêm Quang, về sau đổi là Thần Quang, trên mảnh đất Giao Thủy đó. Người dân quen gọi là Chùa Keo, vì "Giao" đọc theo âm Nôm là "Keo". Tên làng thành tên chùa, và tên chùa theo dân suốt mấy thế kỷ sau.
Rồi nước lũ ập về. Cục Di sản văn hóa ghi rằng hai đợt lũ lớn vào năm một nghìn năm trăm tám mươi tám và một nghìn sáu trăm mười một đã chôn vùi ngôi chùa cũ, buộc cư dân phải rời đi. Họ dạt về hai nơi. Một nhóm sang bờ tả sông Hồng, lập làng Dũng Nhuệ, thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay. Nhóm kia lập làng Hành Cung rồi đổi thành Hành Thiện dưới thời Minh Mệnh. Và cả hai nhóm, ở hai vùng đất khác nhau, đều dựng lại chùa mới, đều thờ Thiền sư Dương Không Lộ, đều mang tên Chùa Keo.
Cả nhà mình hôm nay đang đứng ở phần Hành Thiện, tức Chùa Keo phía Nam Định. Và điều thú vị là đây không phải một ngôi chùa mà là hai. Chùa Keo trong, tên chữ là Thần Quang tự. Chùa Keo ngoài, tên chữ là Đĩnh Lan tự. Hai ngôi chùa, hai thời điểm xây dựng, hai chức năng thờ tự khác nhau.
Chúng ta sẽ bắt đầu từ Chùa Keo trong.
Ngôi chùa này được tổ chức trên một trục kiến trúc kéo dài từ phía cổng vào đến tận khu đền Thánh phía sau. Cục Di sản văn hóa mô tả trục đó đi qua tam quan ngoại, tam quan nội kiêm gác chuông, rồi đến chùa Phật, sau đó là đền Thánh, và bao quanh là hệ thống hành lang nối các dãy nhà lại với nhau. Cách bố cục đó gọi là kiểu "nội công, ngoại quốc", nghĩa là bên trong hình chữ Công, bên ngoài hình chữ Quốc bao bọc. Khi cả nhà đi theo trục chính, sẽ thấy rõ từng lớp không gian mở ra liên tiếp, như đi qua từng màn sân khấu.
Điểm dừng quan trọng nhất ở Chùa Keo trong là Tam quan nội kiêm gác chuông. Cục Di sản văn hóa đánh giá đây là một trong những tam quan gác chuông sớm và đẹp ở Việt Nam. Công trình có hai tầng, tám mái, và các cấu kiện gỗ được chạm khắc rồng, hoa sen, cúc mãn khai và vân xoắn. Phong cách chạm khắc bong kênh, tức là hình nổi lên hẳn khỏi nền gỗ, mang đặc trưng nghệ thuật thế kỷ mười bảy. Mỗi đầu dư, mỗi ô hoa đều có câu chuyện riêng. Nhưng điều khó diễn tả bằng lời là cảm giác khi đứng dưới công trình đó nhìn lên, thấy hàng trăm mảnh gỗ khớp vào nhau chính xác đến từng li, không cần một chiếc đinh sắt nào.
Tiếp theo trục thần đạo, cả nhà sẽ đến Chùa Phật. Công trình này có kết cấu chữ "Công" với Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện nối liền. Trên các cấu kiện gỗ, hoa văn trang trí là rồng, lân, phượng, cùng các bộ tứ linh và tứ quý. Đây là không gian thờ Phật, cũng là không gian quan trọng nhất của phần đầu trục chùa.
Và ngay phía sau, cách Thượng điện hơn mười mét, là Đền Thánh. Đây là nơi thờ Thiền sư Dương Không Lộ. Cách bố cục này phản ánh mô hình "tiền Phật, hậu Thánh" rất phổ biến trong kiến trúc tôn giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ. Phật được thờ phía trước, Đức Thánh được thờ phía sau, hai không gian tách biệt nhưng cùng nằm trên một trục.
Đền Thánh ở đây đặc biệt vì theo Cục Di sản văn hóa, hai mặt tiền của tòa tiền đường được chạm khắc bong kênh ở cả hai mặt gỗ. Các cánh cửa được phân thành mười cánh, mỗi cánh chạm một đề tài khác nhau. Sự công phu này cho thấy tầm quan trọng của Đức Thánh trong đời sống tín ngưỡng làng Hành Thiện.
Ai là Thiền sư Dương Không Lộ? Theo Cục Di sản văn hóa, ông có húy là Minh Nghiêm, hiệu là Không Lộ, là người có công lớn với vương triều Lý và được vua Lý phong làm Quốc sư kiêm Đại pháp sư. Người dân Hành Thiện thờ ông vừa là Đức Thánh tổ, vừa là Phúc thần và Thành hoàng làng, vừa là người sáng lập ra làng.
Còn một bằng chứng lịch sử nữa mà cả nhà cần nhớ: tấm bia cổ nhất trong quần thể chùa có tên là "Tu tạo Thần Quang tự bi ký", soạn ngày hai mươi lăm tháng Tám, niên hiệu Hoằng Định thứ mười ba, tức năm một nghìn sáu trăm mười ba. Tấm bia xác nhận chùa Thần Quang đã được xây dựng từ trước thời điểm đó. Đây là loại nguồn gốc mà các nhà nghiên cứu rất coi trọng: không phải truyền khẩu, mà là ký tự khắc vào đá.
Bây giờ cả nhà đi sang Chùa Keo ngoài, tức Đĩnh Lan tự. Chùa này được xây dựng muộn hơn nhiều, theo Cục Di sản văn hóa là từ năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống nguyên niên, tức năm một nghìn bảy trăm bảy mươi tám. Chùa ngoài thờ Phật và Bồ Tát Quan Âm Nam Hải, không thờ Đức Thánh như Chùa Keo trong. Các công trình chính của chùa ngoài gồm chùa chính và gác chuông, đều được Cục Di sản văn hóa đánh giá là có giá trị kiến trúc.
Nếu cả nhà đến vào dịp tháng Chín âm lịch, câu chuyện Chùa Keo Hành Thiện sẽ có thêm một lớp rất đặc biệt: lễ hội. Báo Ninh Bình ghi lễ hội diễn ra từ ngày mười hai đến ngày mười lăm tháng Chín âm lịch hằng năm. Trong lễ hội, ngoài nghi thức rước kiệu và lễ Thánh đản, còn có bơi trải đứng. Bơi trải đứng là gì? Đó là trò đua thuyền mà người chèo đứng thẳng, không ngồi. Mỗi trải có mười người đại diện các xóm, xuất phát từ kênh Đồng Nê, qua Cống Bùi và về đến sông Ninh Cơ. Và lễ hội này không chỉ là sinh hoạt làng xã: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận đây là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số hai nghìn chín trăm sáu mươi ba, ban hành năm hai nghìn không trăm mười chín.
Và tổng thể quần thể này, Chùa Keo trong và Chùa Keo ngoài, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định hai nghìn bốn trăm chín mươi chín ban hành ngày hai mươi hai tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười sáu.
Vậy là cả nhà vừa đi qua gần một nghìn năm của một cộng đồng không chịu để mất ký ức. Hai đợt lũ, hai lần dân rời đi, hai nơi dựng chùa mới, và vẫn giữ nguyên tên, vẫn thờ cùng vị Thánh, vẫn tiếp nối cùng một lễ hội. Chùa Keo Hành Thiện là kiến trúc gỗ. Nhưng điều quan trọng hơn là tất cả những gì làng đã chọn giữ lại, dù nước lũ có xóa hết mọi thứ.