Chuyen.AIPlaylist
Hưng Yên

Chùa Keo Thái Bình

0:000:00

Có những công trình kiến trúc khi nhìn lên mà thấy thời gian đông đặc lại trong từng xà, từng mái. Chùa Keo ở Thái Bình là một trong số đó.

Chùa Keo, tên chữ là Thần Quang tự, nay thuộc xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên. Trong nhiều tài liệu cũ, cả nhà sẽ gặp địa danh xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, đó là địa chỉ trước sắp xếp hành chính. Di tích được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng quốc gia đặc biệt theo Quyết định số một nghìn bốn trăm mười chín ngày hai mươi bảy tháng chín năm hai nghìn không trăm mười hai.

Câu chuyện của chùa bắt đầu từ năm một nghìn không trăm sáu mươi mốt dưới thời Lý Thánh Tông, khi một ngôi chùa tên Nghiêm Quang được dựng trên đất Giao Thủy. Năm một nghìn một trăm sáu mươi bảy, chùa đổi tên thành Thần Quang. Rồi năm một nghìn sáu trăm mười một, một trận lụt lớn ập đến. Ngôi chùa cũ bị nước cuốn. Dân ấp Keo phải di dời, chia thành hai nhánh: một ở hữu ngạn sông Hồng, nay là khu vực Nam Định, và một ở tả ngạn, là khu vực chùa Keo Thái Bình ngày nay. Năm một nghìn sáu trăm ba mươi hai, ngôi chùa được dựng lại. Và từ đó đến nay, gần bốn trăm năm, chùa đứng vững.

Điều khiến chùa Keo trở thành điểm kiến trúc đáng nghiên cứu nhất đồng bằng sông Hồng là bố cục không gian theo trục Thần đạo. Cả nhà bước vào từ hướng Nam, và cả hành trình tham quan là một cuộc đi xuyên qua các lớp không gian mở dần và sâu dần.

Lớp đầu tiên là Tam quan ngoại. Trước cổng có sân lát đá rộng. Phía sau tam quan là hồ nước. Hồ không chỉ làm cảnh. Nguồn của chùa ghi bố cục này tạo dạng "thượng gia hạ trì", nghĩa là trên nhà dưới ao, và hai lối đi vòng quanh hồ là con đường dẫn khách từ không gian làng vào không gian thờ tự.

Lớp thứ hai là Tam quan nội. Đây là công trình gỗ ba gian với hệ chạm khắc tinh xảo. Bộ cửa trung quan hiện tại là bản phục chế, còn bộ gốc từ thế kỷ mười bảy đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Qua Tam quan nội là khu Chùa Phật. Gồm ba tòa: chùa Ông Hộ, tòa Ống muống và tòa Tam bảo. Đây là phần "Phật" trong bố cục "tiền Phật hậu Thánh" của chùa Keo. Cục Di sản văn hóa đánh giá chùa là công trình tiêu biểu của dạng thức chùa "tiền Phật hậu Thánh" và chùa "trăm gian" ở Việt Nam.

Sau khu Chùa Phật là tòa Giá roi và khu Đền Thánh. Tại đây thờ Thánh Dương Không Lộ, vị thiền sư thời Lý gắn với truyền thống Phật giáo và ký ức cộng đồng làng Keo. Khu Đền Thánh gồm tòa Thiêu hương, tòa Phụ Quốc và Thượng điện.

Điểm cuối của trục Thần đạo là gác chuông. Đây là công trình mà cả nhà sẽ nhìn thấy từ xa nhất và nhớ lâu nhất. Gác chuông ba tầng, mười hai mái, khung gỗ, cao khoảng mười một phẩy năm mét. Cục Di sản văn hóa đánh giá đây là một gác chuông lớn, đẹp trong kiến trúc chùa cổ Việt Nam và là biểu tượng văn hóa của đất Thái Bình. Cái ấn tượng không phải ở sự đồ sộ, mà ở tỷ lệ. Gỗ, mái, đao cong và tầng được sắp xếp với một sự hài hòa mà chỉ nghề thủ công hàng trăm năm mới tích lũy được.

Hai dãy hành lang Đông và Tây, mỗi dãy ba mươi ba gian, bao quanh khu Chùa Phật và Đền Thánh. Hành lang tạo mặt bằng dạng chữ Quốc, vừa che chắn vừa kết nối các hạng mục.

Hằng năm có hai kỳ lễ hội. Hội xuân vào mùng bốn tháng Giêng. Hội thu từ ngày mười đến mười lăm tháng chín âm lịch. Lễ hội chùa Keo đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số hai trăm mười bảy ngày hai mươi ba tháng một năm hai nghìn không trăm mười bảy. Trong dịp hội có tế lễ Phật và Thánh, cùng các trò chơi dân gian như kéo co, têm trầu cánh phượng và bịt mắt đánh trống.

Đây là di tích kiến trúc gỗ gần bốn trăm năm tuổi. Những vân gỗ, mộng chốt và chạm khắc trên từng cột, từng xà là bằng chứng của thời gian không thể tái tạo lần thứ hai.

Chùa Keo nhắc cả nhà rằng người Việt đã từng xây được những công trình gỗ ở đồng bằng sông Hồng đứng bền gần bốn thế kỷ qua lũ lụt, chiến tranh và thời gian. Đó không chỉ là chuyện vật liệu. Đó là chuyện của kỹ thuật, của cộng đồng và của một đời sống tâm linh đủ mạnh để giữ cho những công trình ấy sống tiếp.

Câu chuyện gần đây