Chuyen.AIPlaylist
Hàn Quốc

Chùa Haeinsa và tám vạn mộc bản trong kho gỗ biết thở

0:000:00

Hơn tám mươi nghìn tấm gỗ.

Con số ấy nghe qua thì trôi tuột đi mất, nên hãy thử đếm nó. Mỗi giây đếm một tấm, đếm liên tục, không dừng lại uống nước, không dừng lại ăn cơm, không chợp mắt lấy một phút. Đếm như vậy phải mất hơn hai mươi hai tiếng đồng hồ mới hết. Nghĩa là bắt đầu từ sáng sớm hôm nay, thì mãi tới gần sáng hôm sau mới đếm tới tấm cuối cùng. Mà đó mới chỉ là đếm thôi. Chưa đọc một chữ nào, chưa khắc một nét nào.

Tám mươi nghìn tấm gỗ ấy không nằm trong một nhà kho bê tông có máy điều hòa. Chúng nằm trong mấy dãy nhà gỗ thấp, trên sườn một ngọn núi.

Núi ấy tên là Gaya, thuộc huyện Hapcheon ở phía nam Hàn Quốc. Trên núi có một ngôi chùa dựng từ năm tám trăm lẻ hai, thời Silla, tên là Haeinsa. Chùa nằm lọt giữa rừng của vườn quốc gia, chỗ mà gió cứ men theo thung lũng mà đi lên.

Chuyện những tấm gỗ bắt đầu từ hơn bảy trăm năm trước, khi vương triều Goryeo đang gặp nguy. Giữa lúc rối ren nhất, triều đình quyết định làm một việc mà thoạt nghe rất lạ. Họ cho khắc trọn bộ kinh Phật lên gỗ, từng chữ một, ngược chiều, để sau này áp giấy lên là in ra được. Người thời ấy tin rằng làm xong việc đó thì đất nước sẽ được che chở.

Việc khắc kéo dài mười hai năm, từ năm một nghìn hai trăm ba mươi bảy đến năm một nghìn hai trăm bốn mươi tám. Một đứa trẻ sinh ra đúng cái năm người thợ đầu tiên đặt lưỡi dao xuống mặt gỗ, thì tới ngày tấm cuối cùng khắc xong, đứa trẻ ấy đã thành một cô cậu mười một, mười hai tuổi.

Nhưng trước lưỡi dao còn một chặng dài hơn nữa, và chặng ấy mới thật khó tin.

Gỗ được chọn là anh đào rừng và lê rừng. Chặt xuống rồi, người ta không đem khắc ngay. Họ đem ngâm xuống nước biển. Ngâm chừng ba năm. Ba năm nằm im trong nước mặn, thớ gỗ nhả hết nhựa, bỏ hết cái tính co ngót ương bướng của nó. Vớt lên, gỗ còn được luộc trong nước muối, rồi để trong bóng râm cho gió thổi qua thật chậm cho tới khi khô hẳn. Làm đủ chừng ấy thì tấm gỗ sau này mới không cong, không nứt.

Ba năm chờ đợi, chỉ để một tấm gỗ đủ ngoan mà nhận lấy con chữ.

Mỗi tấm dài chừng bảy mươi phân, mỏng như một tấm thớt, nặng độ ba bốn ký. Cả hai mặt đều khắc kín chữ Hán, không chừa một khoảng trống nào. Cộng hết lại, trên hơn tám mươi nghìn tấm gỗ ấy có hơn năm mươi hai triệu chữ.

Thử làm một phép tính nhỏ cho vui. Giả sử có một người thợ thật giỏi, ngồi từ sáng đến tối, mỗi ngày khắc được ba mươi chữ. Với tốc độ ấy, muốn khắc hết năm mươi hai triệu chữ thì phải mất gần năm nghìn năm.

Cho nên đây không thể là việc của một người. Đây là việc của rất nhiều người, ngồi cạnh nhau, mùa này qua mùa khác, mỗi người một góc bàn, mỗi người một phần việc của mình.

Điều lạ nằm ở chỗ này: nhìn vào bộ mộc bản, người ta lại không thấy dấu vết của đám đông ấy. Nét chữ ở tấm đầu và nét chữ ở tấm cuối giống nhau đến mức như thể chỉ có một bàn tay viết ra tất cả. Về sau, nhà thư pháp nổi tiếng Kim Jeong-hui xem xong đã nói rằng nét chữ ấy không giống nét của người phàm. Chữ ở đây đẹp và chuẩn xác đến mức hiếm thấy trên đời.

Khắc xong rồi thì tới câu hỏi thứ hai, và câu hỏi này còn khó hơn câu thứ nhất. Cất ở đâu?

Gỗ là thứ mong manh. Ẩm thì mốc, khô quá thì nứt, gặp mối mọt thì tan thành bụi. Vậy mà những dãy nhà dựng từ thế kỷ mười lăm để chứa bộ mộc bản này, gọi là Janggyeong Panjeon, đã giữ được ngần ấy gỗ qua bao nhiêu mùa mưa nắng, mà không cần một chiếc máy nào, không một sợi dây điện nào.

Bí mật nằm ở mấy ô cửa sổ. Chỗ này mới là chỗ hay nhất, và cả nhà có thể nhìn thấy tận mắt khi đứng trước dãy nhà.

Mỗi bức tường có hai hàng cửa chấn song gỗ, một hàng trên cao, một hàng dưới thấp. Điều đặc biệt là hai hàng ấy không bằng nhau. Ở mặt trước, hàng cửa dưới to gấp khoảng bốn lần hàng cửa trên. Còn ở mặt sau, người xưa làm ngược hẳn lại.

Chỉ một chi tiết so le như vậy thôi mà thành ra kỳ diệu. Gió từ thung lũng thổi lên, gặp bức tường thứ nhất thì bị hút vào qua ô cửa lớn, luồn dọc theo các giá gỗ, rồi thoát ra ở bức tường bên kia. Không ai bấm nút, không ai vặn cái gì cả. Tòa nhà cứ tự thở, ngày này qua ngày khác.

Dưới chân còn một lớp che chở nữa. Nền nhà là đất sét, và bên dưới lớp đất sét ấy người ta lót muối, than củi và vôi thành từng lớp dày, đặt trên móng đá granit cho nước thoát nhanh. Mùa mưa, lớp lót ấy hút bớt hơi ẩm trong không khí. Mùa đông hanh khô, nó nhả ẩm trả lại. Cả tòa nhà giống một sinh vật biết tự điều chỉnh hơi thở của mình theo mùa.

Kết quả thì ai cũng kiểm chứng được. Hơn bảy trăm năm sau ngày khắc, đem giấy áp lên mộc bản mà in, chữ vẫn hiện lên sắc nét, gọn gàng, không hề nhòe.

Năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, khu nhà kho ấy được ghi vào danh sách Di sản thế giới. Mười hai năm sau, tới lượt chính bộ mộc bản bên trong được ghi vào danh mục Ký ức thế giới. Ngôi nhà và thứ nó che chở, cả hai cùng được gọi tên.

Người Việt mình cũng có mộc bản. Mộc bản triều Nguyễn và mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đều đã được ghi danh là di sản tư liệu, cũng là những tấm gỗ khắc chữ ngược, cũng đi qua bao nhiêu đời người mà còn lại.

Hơn tám mươi nghìn tấm gỗ. Đến đây thì con số ấy không còn là một con số nữa.

Nó là ba năm nước biển cho từng tấm một. Là mười hai năm cúi đầu trên mặt bàn. Là hàng trăm bàn tay mà bây giờ không ai còn nhớ tên, viết giống nhau đến mức người đời sau tưởng chỉ có một người ngồi viết.

Và nếu một ngày cả nhà lên tới cái sân nhỏ trước dãy nhà ấy trên núi Gaya, sẽ chẳng nghe thấy tiếng máy móc nào. Chỉ có gió từ thung lũng đi lên, chui qua hàng cửa thấp, đi ngang tám mươi nghìn tấm gỗ đang xếp im trên giá, rồi lặng lẽ ra bằng hàng cửa bên kia. Nó đã làm đúng việc ấy suốt mấy trăm năm rồi, và sáng mai nó lại làm tiếp.

Câu chuyện gần đây