Chuyen.AIPlaylist
Cần Thơ

Chùa Khléang

0:000:00

Cái tên "Sóc Trăng" không phải tên Việt. Đó là phiên âm từ tiếng Khmer.

Người Khmer gọi vùng đất này là "Srok Kh'leang", trong đó "Srok" nghĩa là đất hay làng, còn "Kh'leang" nghĩa là kho hay vùng kho. Người Việt nghe và phiên âm lại thành "Sóc Trăng". Và ngôi chùa đang đứng trước mặt cả nhà, Chùa Khléang, chính là ngôi chùa mang cái tên cổ xưa đó, ngôi chùa đã hiện diện trên vùng đất này gần năm trăm năm.

Vào năm một nghìn năm trăm ba mươi ba, vua Khmer Ang Chăn I trong hành trình kinh lý qua các vùng đất hạ lưu sông Hậu đã ra lệnh xây dựng một ngôi chùa tại Srok Kh'leang để người Khmer địa phương có nơi tu hành và sinh hoạt tâm linh. Ngôi chùa ban đầu chỉ là lá lợp và tre gỗ, đơn sơ. Qua gần năm thế kỷ trùng tu nhiều lần, chùa Khléang hôm nay không còn nguyên mẫu thuở ban đầu, nhưng tinh thần và truyền thống vẫn được tiếp nối không đứt đoạn.

Ngày hai mươi bảy tháng tư năm một nghìn chín trăm chín mươi, Bộ Văn hóa Việt Nam công nhận Chùa Khléang là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Quốc gia, một trong những chùa Khmer đầu tiên được vinh danh như vậy ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Điều đầu tiên cả nhà nhận ra khi nhìn vào chánh điện là mái ngói nhiều tầng xếp chồng lên nhau và cong vút ở bốn góc. Đây là kiến trúc đặc trưng của chùa Khmer Nam Bộ, khác hoàn toàn với mái chùa Bắc tông thẳng và đơn lớp của người Việt. Trên đỉnh mái và dọc theo mái có những tượng rắn Naga, rắn thần bảy đầu, biểu tượng bảo hộ trong văn hóa Phật giáo Khmer. Đây không phải rắn dữ dọa người, mà là vị thần bảo hộ trong truyền thuyết.

Nhưng điều thú vị nhất của Chùa Khléang so với các chùa Khmer khác là dấu vết giao thoa văn hóa. Nhìn kỹ vào cột chống mái, người ta thấy chạm khắc cá chép, rồng và chữ Hán, đó là phong cách người Hoa. Nhìn vào khung cửa, đó là hoa văn kiểu Việt. Còn toàn bộ cấu trúc chính và màu sắc rực rỡ vàng đỏ xanh thì là Khmer. Ba nền văn hóa cùng hiện diện trong một ngôi chùa. Đó là câu chuyện của Sóc Trăng, nơi người Khmer, người Việt và người Hoa đã sống cạnh nhau hàng thế kỷ và in dấu vào nhau.

Phật giáo Theravada mà người Khmer theo có một số điểm khác biệt quan trọng so với Phật giáo Bắc tông mà người Việt quen thuộc. Theravada chỉ thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca, không có nhiều Bồ Tát như Quan Âm, A Di Đà hay Địa Tạng như trong chùa Bắc tông. Chánh điện vì vậy trông đơn giản hơn về số lượng tượng, nhưng sâu sắc hơn trong từng chi tiết. Tăng sĩ Khmer mặc áo cà sa vàng cam, màu khác với áo nâu hay đỏ của tăng ni Bắc tông Việt.

Bước vào chánh điện, không gian trầm lặng và vàng ánh tượng Phật Thích Ca. Không có tiếng chuông hay kinh cầu ồn ào như nhiều chùa quen thuộc. Chỉ có hương trầm, ánh nến, và bóng cà sa vàng cam của các tăng sĩ ngồi thiền định.

Chùa Khléang là trung tâm sinh hoạt tôn giáo và văn hóa của người Khmer địa phương. Ba lễ hội lớn trong năm đều diễn ra tại đây. Chol Chnam Thmay vào ngày mười ba đến mười lăm tháng tư dương lịch là Tết cổ truyền Khmer, với lễ đắp núi cát, tắm tượng Phật và múa truyền thống Lâm Vông. Sen Dolta vào khoảng tháng chín âm lịch là lễ cúng tổ tiên. Và Ok Om Bok vào đêm rằm tháng mười âm lịch là lễ tạ ơn Mặt Trăng sau vụ mùa, với hoạt động đua ghe ngo, loại ghe dài hai mươi lăm đến ba mươi mét với năm mươi đến sáu mươi người chèo, trên sông Maspero.

Bên trong khuôn viên còn có trường Pali, nơi dạy ngôn ngữ Pali và chữ Khmer cho các tăng sinh trẻ. Tiếng Pali là ngôn ngữ của kinh điển Phật giáo Theravada, giữ vai trò như tiếng Latin trong Thiên Chúa giáo, ngôn ngữ thiêng liêng của truyền thống. Việc dạy Pali và chữ Khmer là cách cộng đồng bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của mình qua nhiều thế hệ.

Cả nhà đang đứng trước gần năm trăm năm lịch sử, và đang đứng trong một vùng đất từng là của người Khmer trước khi trở thành Sóc Trăng của Việt Nam hôm nay. Trên mái chùa, những con rắn Naga bảy đầu vẫn vươn lên bầu trời xanh, bảo hộ cho ngôi chùa như đã bảo hộ suốt gần năm thế kỷ qua.

Câu chuyện gần đây