Chuyen.AIPlaylist
Lâm Đồng

Chùa Linh Phước

0:000:00

Mười hai nghìn cái vỏ chai bám kín thân một con rồng dài bốn mươi chín mét, giữa sân một ngôi chùa ở Trại Mát.

Đáng lẽ chúng đã bị bỏ đi từ lâu. Vậy mà chúng nằm im ở đó, mỗi cái một chỗ, sát cạnh nhau, đã yên vị như thế nhiều năm rồi.

Con rồng ấy uốn lượn trong một khoảnh sân mang tên Long Hoa Viên, phía ngoài trung tâm Đà Lạt. Thân nó phủ một lớp vảy làm từ vỏ chai. Muốn xem cho hết một con rồng dài chừng ấy, phải đi bộ dọc theo nó, từ chỗ cái đầu tới chỗ chóp đuôi. Nắng cao nguyên rọi xuống, mỗi cái vỏ chai bắt lấy một chút sáng rồi hắt đi một hướng riêng, thành ra cả con rồng lấp lánh như vừa lội qua nước.

Chỗ ấy là chùa Linh Phước. Ngôi chùa ấy còn mang một cái tên khác, ngắn hơn và dân dã hơn: chùa Ve Chai.

Mười hai nghìn là bao nhiêu? Có một cách để hình dung con số ấy. Cứ cho là nhà mình mỗi tháng để dành được mười cái vỏ chai, tháng nào cũng đều đặn như thế, không sót tháng nào. Một năm được một trăm hai mươi cái. Muốn gom cho đủ mười hai nghìn, phải để dành liên tục suốt một trăm năm. Dài hơn cả một đời người.

Thế mà chừng ấy mới chỉ đủ làm vảy cho một con rồng.

Lưng rồng không nhẵn. Nó gồ ghề, lồi lõm, nhìn nghiêng thấy từng chiếc vỏ chai nổi lên, cái ngả bên này, cái ngả bên kia, không cái nào giống hệt cái nào. Mỗi chiếc vảy là một cái vỏ chai được gom về từ đâu đó quanh vùng này.

Chùa Linh Phước dựng năm một nghìn chín trăm bốn mươi chín. Hơn bốn chục năm sau, vào năm một nghìn chín trăm chín mươi, Thượng tọa Thích Tâm Vị đứng ra tổ chức một đợt đại trùng tu.

Trùng tu thì phải có vật liệu. Thứ mà thầy Thích Tâm Vị và các nhà sư trong chùa chọn là thứ nhà nào cũng có và nhà nào cũng bỏ đi: mảnh vỡ.

Các nhà sư trong chùa tìm đến các nhà dân quanh vùng để hỏi xin. Những mảnh sành, mảnh sứ, mảnh chai đã không còn dùng được nữa. Rồi tới các xưởng làm chai thủy tinh, các nhà máy, các lò gốm sứ trong vùng để gom góp. Chuyện ấy không gọn trong một buổi. Chỗ góp vài mảnh, chỗ góp nhiều hơn, hết xưởng này sang lò kia. Cái mà người ta gọi là rác cứ thế được gom dần về chùa.

Mang về rồi vẫn chưa dùng được ngay. Mảnh nào cũng phải cọ rửa cho thật sạch đã. Rửa xong thì phải cắt, vì mảnh vỡ tự nhiên góc nào cũng lởm chởm, không ăn vào một đường hoa văn hay một chiếc vảy rồng. Cắt xong lại phải mài, mài cho tới khi mảnh nào ra hình mảnh nấy, đặt vào chỗ nào là vừa khít chỗ ấy. Không có máy móc nào làm hộ. Mỗi mảnh đều phải qua tay người, mảnh nào cũng tốn công như mảnh nào. Từ khâu nhặt lên tới khâu mài xong, tất cả đều làm bằng tay.

Rồi mới tới lúc gắn. Gắn lên đâu? Lên khắp nơi. Ở chùa Linh Phước, mảnh sành, mảnh sứ không phải là một chi tiết trang trí đặt vào một góc cho vui mắt. Nó là lớp da của cả ngôi chùa. Thân cột phủ mảnh vỡ. Vách tường phủ mảnh vỡ. Các đường hoa văn, các nét họa tiết trong chùa phần nhiều cũng ghép từ mảnh vỡ. Và thân con rồng ngoài sân, dĩ nhiên, cũng vậy.

Đứng gần thì thấy từng miếng một: chỗ này một mảnh sứ có men, chỗ kia một mảnh sành thô, chỗ nọ là một mảnh thủy tinh trong veo. Mặt tường không phẳng, chỗ lồi chỗ lõm, mảnh nọ chồm lên mảnh kia một chút. Lùi ra vài bước thì các miếng biến mất, chỉ còn lại hình: hoa văn, họa tiết, và con rồng đang lượn. Cái tên chùa Ve Chai, tới lúc này mới thấy hết nghĩa: nó không gọi riêng một góc nào, nó gọi cả ngôi chùa.

Ánh sáng ở đây đến từ cách ghép. Hàng nghìn mặt cong nhỏ xíu kề sát cạnh nhau, như hàng nghìn tấm gương bé tí. Bước sang một bước, mảng tường vừa nãy còn dịu đã sáng bừng lên. Đứng yên một chỗ, chỉ cần một đám mây trôi ngang mặt trời là cả bức tường cũng dịu xuống theo. Ngôi chùa gần như không chịu đứng im.

Ngẩng lên khỏi lưng rồng thì thấy Linh Tháp. Tòa tháp chuông ấy vươn thẳng lên trời Trại Mát, cao đến mức phải ngửa hẳn cổ mới nhìn thấy tầng trên cùng. Ngôi chùa này được ghi nhận là nơi có tháp chuông cao nhất Việt Nam. Trên tầng cao nhất ấy treo một quả đại hồng chung nặng tám nghìn năm trăm ki lô gam. Chuông đổ, tiếng ngân trùm lên khuôn viên bên dưới, nơi các nhà sư và Phật tử vẫn lui tới mỗi ngày, rồi loang vào sương cao nguyên.

Cũng theo lối góp từng chút một như thế, ba trăm Phật tử và ba mươi nghệ nhân đã kết từng bông hoa bất tử lên một pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Bông này sát bông kia, cho tới khi toàn thân pho tượng phủ kín hoa. Ba mươi sáu ngày sau, bông cuối cùng mới được đặt vào chỗ của nó.

Nghĩ kỹ thì mỗi mảnh gắn trên tường ấy đều từng có một đời sống khác. Biết đâu có cái bát từng đựng cơm cho một gia đình nào đó, có cái lọ từng cắm hoa, có cái vỏ chai từng nằm trong một góc bếp. Đến một hôm chúng vỡ, hoặc chúng bị bỏ lại, và theo lẽ thường thì tới đó là hết chuyện. Ở nơi này thì chưa hết. Ở nơi này chúng được nhặt lên.

Cho nên nếu một ngày cả nhà đứng trước con rồng ở Trại Mát, thì đừng vội đếm vỏ chai. Đếm không xuể đâu.

Mười hai nghìn cái vỏ chai trên mình con rồng ấy cũng có nghĩa là mười hai nghìn lần một bàn tay cúi xuống nhặt lên một chiếc vỏ chai. Mười hai nghìn lần rửa cho thật sạch. Rồi mười hai nghìn lần đặt xuống đúng chỗ của nó, ấn nhẹ, và giữ yên cho tới khi nó bám chắc. Con rồng nằm đó, lấp lánh dưới nắng Đà Lạt.

Nó không làm bằng vỏ chai. Nó làm bằng chừng ấy lần cúi xuống.

Câu chuyện gần đây