Chùa Thầy
Người già quanh núi Sài Sơn vẫn kể về một vị sư ngày ngày trèo lên núi, thắp một nén hương rồi ngồi thiền. Vị sư ấy làm thuốc, chữa bệnh cứu người. Lúc rảnh, ông bày cho dân làng một trò chơi lạ: những con rối nhảy múa ngay trên mặt nước. Dân quý ông lắm, nên gọi ông bằng một tiếng thật giản dị: Thầy.
Ngọn núi ông trèo lên mỗi ngày, về sau người ta gọi là núi Thầy. Ngôi chùa nhỏ trên núi là Chùa Cao. Còn ngôi chùa lớn dưới chân núi, tên chữ là Thiên Phúc tự, thì ai cũng gọi bằng cái tên thân quen: Chùa Thầy.
Vị sư trong câu chuyện là một người có thật. Ông là Thiền sư Từ Đạo Hạnh, sống dưới triều Lý, từ năm một nghìn không trăm bảy mươi hai đến năm một nghìn một trăm mười sáu. Đầu thế kỷ mười hai, chỗ ông tu hành chỉ là một cái am nhỏ, tên là Hương Hải am. Rồi vua Lý Nhân Tông cho mở rộng, dựng thành hai ngôi chùa: Chùa Cao trên núi và chùa Dưới ở chân núi.
Chùa Thầy nằm cách trung tâm Hà Nội chừng hai mươi lăm đến ba mươi cây số về phía tây nam. Núi Sài không cao, chỉ khoảng một trăm mét. Ngôi chùa lớn quay mặt về hướng nam, tựa lưng vào núi, nhìn ra một mặt hồ rộng tên là Long Trì, nghĩa là ao rồng.
Hai bên sân chùa, hai cây cầu đá cong ra mặt hồ, như hai sợi râu của con rồng. Mỗi cây cầu có ba nhịp, bên trên lợp mái ngói. Trên là nhà, dưới là cầu, người xưa gọi kiểu ấy là thượng gia hạ kiều. Cầu bên trái tên Nhật Tiên Kiều, dẫn ra một đảo nhỏ có đền thờ Tam phủ. Cầu bên phải tên Nguyệt Tiên Kiều, nối sân chùa với con đường lên núi. Nhật là mặt trời, Nguyệt là mặt trăng, một đôi cầu mang tên hai vầng sáng trên trời.
Năm một nghìn sáu trăm lẻ hai, hai cây cầu được dựng lên dưới sự chỉ huy của Phùng Khắc Khoan. Ông đỗ Hoàng giáp khi đã năm mươi hai tuổi, chưa từng đỗ Trạng nguyên. Thế nhưng người dân quý tài, quý đức, cứ tôn xưng ông là Trạng Bùng. Hơn bốn trăm năm đã trôi qua, đôi cầu của ông vẫn nằm đó, soi bóng xuống hồ.
Giữa hồ Long Trì là Thủy đình. Đình nhỏ, có tám mái, góc đao cong lên, dựng vào khoảng thời Hậu Lê. Nhà thủy đình này được xem là cổ và đẹp nhất nước ta. Người xưa ví mặt hồ như miệng rồng, còn Thủy đình là viên ngọc rồng đang ngậm.
Thủy đình là sân khấu của múa rối nước. Các nghệ nhân điều khiển những con rối lướt trên mặt hồ. Truyền thuyết kể rằng chính Thầy Từ Đạo Hạnh đã dạy dân làm trò rối nước, nên ông được tôn là ông Tổ của nghề.
Người làng Ra gần đó còn giữ một chuyện xưa: Thầy đã cho làng ba mẫu ruộng để nuôi nghề rối và lo việc thờ cúng Thầy. Vì thế mỗi mùa hội, chỉ phường rối làng Ra mới được ra diễn ở Thủy đình. Trên mặt nước, lân và rồng múa lượn, người giã gạo, trâu chọi nhau, tất cả hòa theo tiếng nhạc và lời hát.
Ngôi chùa lớn, còn gọi là chùa Cả, gồm ba tòa nhà song song, xếp như hình chữ Tam. Tòa ngoài là chùa Hạ, nơi lễ bái. Tòa giữa là chùa Trung, thờ Phật, có hai pho tượng Hộ pháp, mỗi pho cao chừng bốn mét. Tòa trong cùng là chùa Thượng, thờ Thánh Từ Đạo Hạnh. Phật ở trước, Thánh ở sau, nên lối bài trí này được gọi là tiền Phật hậu Thánh.
Chùa Thượng còn giữ bộ tượng Di Đà Tam Tôn, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm hai nghìn không trăm mười lăm. Nhưng điều làm các bạn nhỏ tròn mắt nhất lại là ba pho tượng kể ba kiếp của Thầy. Pho ở giữa là Thầy khi đã thành Phật, đội mũ hoa sen, hai tay chắp trước ngực. Pho bên phải là Thầy khi làm vua, đầu đội mũ bình thiên, ngồi trên ngai. Còn pho bên trái là tượng gỗ toàn thân của vị sư, chân tay có chốt khớp. Từ xưa, pho tượng này đã có thể đứng lên, ngồi xuống, y như một con rối.
Vì sao một vị sư lại có tượng ngồi ngai vua? Sách Thiền Uyển Tập Anh và truyền thuyết dân gian kể một chuyện kỳ lạ: Thầy đã trút bỏ thân xác, để đầu thai làm con của Sùng Hiền Hầu, rồi về sau lên ngôi, thành vua Lý Thần Tông. Sau Chùa Cao có một hang đá gọi là hang Thánh Hóa, và người làng truyền rằng Thầy đã hóa ở chính nơi ấy.
Bởi thế, trong lòng người dân, Thầy cùng lúc là bốn người. Là một nhà sư uyên thâm. Là một vị Phật đã đắc đạo. Là một ông vua, theo lời truyền thuyết. Và là ông Tổ của múa rối nước.
Mỗi năm, từ mùng năm đến mùng bảy tháng Ba âm lịch, hội chùa Thầy lại mở. Một trong những nghi lễ đầu tiên là lễ tắm tượng. Các nhà sư nhúng những tấm vải đỏ vào nước, nhẹ nhàng lau các pho tượng. Sau lễ, vải ấy được cắt nhỏ, làm bùa cho trẻ em. Ngoài sân hội có đánh cờ, đấu vật, kéo co, và dĩ nhiên, có rối nước ở Thủy đình. Lễ hội chùa Thầy đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Cuối năm hai nghìn không trăm mười bốn, Chùa Thầy cùng khu núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
Ai chịu khó leo tới đỉnh núi sẽ gặp một khoảng đất phẳng. Quanh đó là những mỏm đá trông như cái bàn, cái ghế, như bầu rượu, túi thơ. Người xưa gọi nơi ấy là chợ Trời. Truyền thuyết kể rằng vào những đêm trăng thanh gió mát, các nàng tiên lại xuống đây họp chợ, đánh cờ.
Còn dưới chân núi, hai sợi râu rồng bằng đá vẫn vươn ra mặt hồ, và giữa miệng rồng, Thủy đình nhỏ vẫn nằm trên mặt nước như một viên ngọc. Và trên núi, trong hang Thánh Hóa sau Chùa Cao, mấy vết lõm vẫn nằm trên đá. Người làng bảo đó là vết chân, vết trán Thầy để lại.