Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Chùa Thầy

0:000:00

Phùng Khắc Khoan là người Trạng nguyên thế kỷ mười sáu, học giỏi nổi tiếng cả nước. Người ta gọi ông là Trạng Bùng, tên làng quê. Năm một nghìn sáu trăm lẻ hai, ông đứng ra chỉ huy xây dựng hai cây cầu đá bắc qua hồ Long Trì trước Chùa Thầy. Cầu này không chỉ để đi qua. Tên của hai cầu là Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều, nghĩa là "Cầu tiên Mặt trời" và "Cầu tiên Mặt trăng". Nhật là dương, Nguyệt là âm. Khách đi vào qua cầu Nhật Tiên, đi ra qua cầu Nguyệt Tiên, tượng trưng đi qua một chu kỳ thời gian hoàn chỉnh.

Hai cây cầu đó vẫn còn đứng đây, hơn bốn trăm năm tuổi.

Chùa Thầy cách trung tâm Hà Nội khoảng hai mươi lăm đến ba mươi cây số về phía tây, dưới chân núi Sài Sơn, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Tên chữ là Thiên Phúc tự. Nhưng người dân gọi là Chùa Thầy vì gắn liền với Thiền sư Từ Đạo Hạnh, vị thiền sư thời Lý mà họ tôn kính là "Thầy".

Câu chuyện về Từ Đạo Hạnh bắt đầu đầu thế kỷ mười hai. Theo tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh và truyền thuyết dân gian, thiền sư đã tu hành tại núi Sài Sơn, sau khi đã từng đi Tây Trúc, tức Ấn Độ, cầu Pháp. Trong văn hoá dân gian Việt Nam, ông được coi cùng lúc là bốn thứ: là Tăng, một sư uyên thâm; là Phật, người đắc đạo; là Vua, theo truyền thuyết đầu thai làm vua Lý Thần Tông sau khi viên tịch; và là Tổ múa rối nước Việt Nam, người được coi đã sáng tạo nghệ thuật múa rối để giải trí cho dân.

Đó là một nhân vật phi thường, và ngôi chùa mang tên ông cũng phi thường.

Trước chùa là hồ Long Trì. Ở giữa hồ là Thuỷ đình, một công trình kiến trúc nhỏ nhưng đặc biệt. Đây là sân khấu múa rối nước cổ điển, được coi là một trong những thuỷ đình rối nước cổ nhất Việt Nam. Nghệ nhân đứng dưới nước sau bức màn, điều khiển con rối phía trước. Khán giả ngồi quanh bờ hồ.

Múa rối nước là loại hình nghệ thuật chỉ có ở Việt Nam và một vài vùng Đông Nam Á. Và theo truyền thuyết, chính Từ Đạo Hạnh là người nghĩ ra nghệ thuật này để giải trí cho cộng đồng. Đó là lý do Chùa Thầy được coi là cái nôi của múa rối nước Việt Nam.

Trong đợt lễ hội mùng năm đến mùng bảy tháng Ba âm lịch hằng năm, các nghệ nhân từ khắp nơi về đây biểu diễn các tích cổ: Chú Tễu với chiếc khố đỏ, Đi bừa, Mèo đuổi chuột, Múa lân, Bắt cá. Đó là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ được sống lại trên mặt nước.

Bước qua một trong hai cây cầu đá vào bên trong, là Chùa Cả với ba toà song song. Chùa Hạ phía trước dùng để giảng đạo và tiếp khách. Chùa Trung ở giữa thờ Tam Bảo, tức thờ Phật. Chùa Thượng phía sau thờ Thánh Từ Đạo Hạnh.

Cấu trúc này gọi là "tiền Phật hậu Thánh". Đây là nét độc đáo của Phật giáo Việt Nam, không tách biệt giữa Phật giáo chính thống và tín ngưỡng thờ Thánh dân gian. Chùa Thầy là một trong những nơi sớm nhất ở Việt Nam thờ kết hợp như vậy, và từ đây cấu trúc đó lan ra nhiều chùa khác.

Trong Chùa Thượng có nhiều pho tượng Thánh Từ Đạo Hạnh ở các tư thế khác nhau: tư thế Tăng đang tu, tư thế Phật đắc đạo, tư thế Vua. Không chùa nào khác ở Việt Nam có bộ tượng như vậy. Toàn chùa lưu giữ ba mươi sáu pho tượng gỗ cổ từ thời Lý đến Nguyễn.

Ngày ba mươi mốt tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười bốn, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định hai nghìn bốn trăm lẻ tám xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt cho cụm "Chùa Thầy và khu vực núi đá Sài Sơn, Hoàng Xá, Phượng Cách". Lễ hội Chùa Thầy cũng được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Núi Sài Sơn phía sau còn chứa Chùa Cao trên đỉnh và Hang Cắc Cớ trong lòng núi, nơi vẫn còn lưu lại dấu ấn của những cuộc kháng chiến năm xưa. Chùa Thầy không chỉ là một ngôi chùa. Đây là nơi giao nhau của Phật giáo, tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật truyền thống và lịch sử ngàn năm của vùng đất Xứ Đoài.

Mỗi khi lễ hội về, tiếng trống hội vang lên từ Thuỷ đình, những con rối thoăn thoắt trên mặt hồ Long Trì phản chiếu bóng núi Sài Sơn, cả nhà sẽ hiểu vì sao người Việt đã giữ gìn nơi này suốt gần một nghìn năm.

Câu chuyện gần đây