Trưng Nhị
Buổi sáng ở vùng đất Mê Linh, sương còn đọng trên lá, có một cô bé chạy nhanh ra sân khi trời vừa hửng, bước chân nhỏ líu ríu cho kịp bên chị. Cô bé ấy là Trưng Nhị, người em sát cánh bên chị Trưng Trắc. Hôm nay cả nhà mình cùng nghe chuyện về bà nhé, một cô gái nhanh nhẹn của đất Mê Linh, đã trở thành một trong hai vị nữ anh hùng đầu tiên của nước ta.
Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Trưng Trắc và Trưng Nhị là con của vị Lạc tướng vùng đất Mê Linh. Lạc tướng là người đứng đầu một vùng đất thuở xa xưa, được dân làng tin yêu và kính trọng. Vậy nên hai chị em lớn lên giữa ruộng đồng, bãi dâu và những con đường làng, quen với tiếng người dân chào hỏi mỗi ngày.
Cả nhà thử tưởng tượng cùng nhau nhé. Hai chị em tập cưỡi ngựa ngoài bãi, tập đứng cho vững trên lưng voi, cười vang khi suýt trượt chân. Đây chỉ là hình ảnh cả nhà mình hình dung cho vui, để thấy hai chị em thân nhau đến nhường nào, chứ sách sử không ghi lại những buổi tập ấy.
Điều chắc chắn là Trưng Nhị luôn ở bên cạnh chị. Hai người không chỉ là chị em ruột thịt, mà còn là đôi bạn cùng chí hướng. Việc gì khó, hai chị em cùng bàn. Đường nào xa, hai chị em cùng đi.
Thuở ấy, đất nước ta đang chịu ách thống trị của nhà Đông Hán, đứng đầu là viên quan tên Tô Định, và dân làng phải gánh nhiều nỗi vất vả. Mỗi lần thấy người chị lặng đi vì thương dân, người em lại đến ngồi bên, cùng chị mong sao đất Mê Linh được yên vui trở lại.
Rồi đến tháng Hai năm bốn mươi sau Công nguyên, theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị đã đứng lên phát động cuộc khởi nghĩa. Lá cờ được dựng lên ở Mê Linh. Chị bước ra phía trước, em theo sát ngay bên. Khi chị cất tiếng kêu gọi dân các vùng đồng lòng đứng dậy, người em Trưng Nhị cũng lên tiếng đáp lời chị, một lòng một dạ.
Lời kêu gọi của hai bà được rất nhiều người hưởng ứng. Người người tìm về, cùng nhau góp sức, và người em vẫn luôn ở ngay bên chị giữa đoàn người đông đảo ấy. Cuộc khởi nghĩa đã thành công vang dội. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết, cuộc khởi nghĩa ấy đã giải phóng được sáu mươi lăm huyện thành — sáu mươi lăm vùng đất, từ làng này sang làng khác, nối nhau trải rộng đến tận chân trời.
Từ đó, người đời gọi hai chị em một cách trìu mến và kính trọng là Hai Bà Trưng. Trong tranh dân gian, trong những câu chuyện kể bên bếp lửa, người ta thường hình dung hai bà cưỡi voi ra trận, người chị và người em đi bên nhau. Đó là cách người Việt bao đời gửi gắm lòng cảm phục, chứ sách sử không tả lại từng buổi ra trận ấy.
Hành trình của hai bà về sau cũng có những ngày mưa gió, những chặng đường dài. Nhưng dù trời sáng hay trời tối, người em vẫn luôn đi ngay bên cạnh chị. Điều cả nhà mình nhớ nhất, là tấm lòng của hai chị em dành cho dân, dành cho đất nước, và dành cho nhau.
Ngày nay, để tưởng nhớ công ơn ấy, người dân đã lập đền thờ hai bà. Ở Mê Linh, Hà Nội có Đền Hai Bà Trưng, nơi thờ cả Trưng Trắc và Trưng Nhị. Theo Cục Di sản Văn hóa, ngôi đền được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm hai nghìn không trăm mười ba.
Mỗi mùa lễ hội, dòng người lại tìm về, thắp một nén hương. Khói hương bay lên. Người lớn lại kể cho con cháu nghe chuyện hai chị em đất Mê Linh.
Và trong ánh đèn ấm của ngôi đền, có hai pho tượng đứng bên nhau, người chị và người em, mãi không rời. Người em nhỏ nhắn mà gan dạ ấy vẫn ở ngay bên chị, như buổi sáng năm xưa bước chân líu ríu chạy ra sân cho kịp. Đó là hình ảnh cả nhà mình hãy giữ trong lòng về Trưng Nhị, người em luôn sát cánh bên chị, trên đất Mê Linh.