Chuyen.AIPlaylist
Đà Nẵng

Cù Lao Chàm

0:000:00

Một ngụm nước mát, trong và ngọt. Với người đã lênh đênh nhiều ngày trên biển, môi chỉ còn vị muối, chẳng có gì quý hơn thế. Và giữa biển mặn, cách bến Cửa Đại khoảng mười lăm cây số về phía đông, có một chiếc giếng cổ đã giữ vị ngọt ấy qua hàng trăm năm. Chiếc giếng nằm trên Cù Lao Chàm.

Cù Lao Chàm là một quần đảo tám đảo lớn nhỏ, quây lại thành hình cánh cung quay mặt về đất liền, như một bức bình phong che chắn cho cửa biển Đại Chiêm của Hội An xưa. Đảo lớn nhất là Hòn Lao, rộng một nghìn ba trăm mười bảy héc ta. Người đảo sống chủ yếu trên Hòn Lao, hơn hai nghìn bốn trăm người, ở những xóm như Bãi Làng và Bãi Hương. Nơi này nay là xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng.

Cù lao là tiếng người Việt vẫn gọi những hòn đảo nhỏ. Trên những tấm bản đồ Ả Rập và Bồ Đào Nha từ thế kỷ mười lăm đến thế kỷ mười bảy, quần đảo mang tên Pulao Cham. Bộ sách địa chí lớn của triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, còn chép một cái tên rất đẹp: Ngọa Long dư, tức hòn đảo con rồng nằm. Người đi biển trong nước và cả người nước ngoài đều lấy hòn đảo làm mốc. Ra khơi hay trở về, thuyền đều ghé lại lấy củi và lấy nước ngọt.

Nhưng người ta đã sống trên đảo từ lâu hơn thế nhiều. Ở Bãi Ông, đất cát còn giữ những chiếc rìu đá của những người sống ở đây từ hơn ba nghìn năm trước. Ở Bãi Làng, dưới lớp đất là những mảnh gốm Chăm, gốm Hồi giáo và gốm Đường của Trung Hoa. Những mảnh vỡ nhỏ ấy kể rằng, từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ mười, người Champa đã sống trên đảo và buôn bán với thương nhân từ Trung Đông, từ Trung Hoa ghé đến. Hòn đảo nhỏ là một trạm dừng chân trên Con đường Tơ lụa trên biển.

Thuyền đến thì cần nước. Ở Xóm Cấm, cách cầu tàu Bãi Làng chừng hai trăm mét về phía tây, có chiếc giếng mang dáng dấp giếng Chăm: miệng tròn, lòng xây gạch, sâu chừng bốn mét rưỡi, dưới đáy lót gỗ lim. Nước giếng Chăm luôn trong, luôn ngọt, mạch dồi dào cả trong mùa khô hạn nhất.

Xưa kia, thương thuyền và thuyền đánh cá cập bến, người ta vào giếng múc nước cho chặng biển tiếp theo. Người ta còn kể thuyền buôn Ả Rập ngày trước hay ghé đảo lấy nước. Đến nay, các gia đình quanh Bãi Làng và Xóm Cấm vẫn lấy nước giếng để dùng. Người dân tin có thần Giếng trông giữ mạch nước, nên tối tối thắp hương, cầu cho xóm yên bình, nước mãi dồi dào.

Cũng ở Bãi Làng là lăng Tiền Hiền, nơi người đảo tưởng nhớ những bậc đi trước đã khai hoang, lập làng. Lăng được dựng bằng những gì đảo có sẵn: vôi, gạch, đá, và cả san hô. Bên trong có bài vị thờ Phục Ba tướng quân, nghĩa là vị tướng chinh phục sóng gió. Một bức hoành phi do một hiệu buôn thuế yến ở Hội An dâng cúng mang bốn chữ Hải Bất Dương Ba, nghĩa là biển không dậy sóng. Đó là lời cầu mong giản dị nhất của những người sống giữa biển.

Gần đó là chùa Hải Tạng. Năm một nghìn bảy trăm năm mươi tám, chùa được dựng ở một chỗ khác, cách chỗ bây giờ chừng hai trăm mét. Mưa bão làm chùa hư hại, nên năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám, đời vua Tự Đức, chùa được dời về dựng lại ở chỗ hiện nay.

Còn nhắc đến Cù Lao Chàm thì phải nhắc yến sào, đặc sản nổi tiếng của đảo. Trong các hang đá ở Hòn Lao, Hòn Tai, Hòn Lá, Hòn Khô và Hòn Ông, hàng nghìn tổ yến nằm cheo leo trên những vách đá dựng đứng. Nghề lấy yến ở đây đã có từ rất lâu, từ thời Champa.

Người Việt nối nghề ấy, nhất là dân làng Thanh Châu ở Hội An, từ thế kỷ mười sáu dưới thời các chúa Nguyễn. Người làm nghề phải leo trên vách hang, dựng giàn, gỡ từng chiếc tổ nhỏ. Đến đời vua Gia Long, ông Hồ Văn Hòa làm quan kiêm chức quản yến. Năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám, miếu Tổ nghề Yến được xây dựng quy mô trên một gò cát ở Bãi Hương, mặt nhìn ra biển. Mỗi năm vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch, người làm nghề lại về đây dâng hương giỗ Tổ. Nghề khai thác yến sào Thanh Châu nay là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Rồi hãy cúi nhìn xuống làn nước quanh đảo. Dưới mặt nước ấy có hơn một trăm ba mươi loài san hô, hơn một trăm bảy mươi loài cá, cùng hàng trăm loài rong biển, ốc, sò, tôm, cua. Cả một thành phố ngầm, mà bao thế kỷ thuyền buôn đã lướt qua phía trên. Năm hai nghìn không trăm linh chín, UNESCO công nhận Cù Lao Chàm và Hội An là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới.

Cũng từ tháng tám năm hai nghìn không trăm linh chín, xã đảo bắt đầu nói không với túi ni lông, trở thành hòn đảo đầu tiên ở Việt Nam làm điều này. Các quán ăn được phát cà mèn để đựng thức ăn. Học sinh ngồi gấp túi giấy tặng cô bác bán hàng. Mười năm sau, lượng túi ni lông dùng trên đảo đã giảm chừng tám mươi lăm đến chín mươi phần trăm.

Cả nhà hình dung nhé. Chiều xuống trên Bãi Làng, tiếng sóng vỗ vào bờ cát, tiếng nói cười vọng ra từ những mái nhà. Và ở Xóm Cấm, chiếc giếng cổ vẫn lặng lẽ giữ trong lòng mình một mạch nước trong, mát, ngọt giữa biển mặn mênh mông. Thứ nước mà biết bao thế hệ người đi biển đã cúi xuống múc lên, uống một ngụm thật dài, rồi giương buồm đi tiếp.

Câu chuyện gần đây