Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi
Ở đồng bằng Bắc Bộ ngày trước, sáng đầu năm người ta đi mua muối, còn những ngày cuối năm thì đi mua vôi.
Ai nghe lần đầu cũng thấy ngược đời. Tết vui là thế, mà thứ mua để mở năm lại là món bình thường, bếp nào cũng có. Còn thứ mua để tiễn năm thì chẳng ai đem nêm vào nồi, lại còn dính vào một câu chê ngày xưa: bạc như vôi. Hai điều ấy nằm gọn trong một câu ông bà ngày trước ai cũng thuộc lòng: Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.
Muối mua đầu năm có tên riêng là muối lộc. Có nhà mua ngay sau giao thừa, có nhà đợi tới sáng mùng Một.
Sáng mùng Một thuở trước, ở làng quê miền Bắc và miền Trung, trời còn se lạnh. Lúc tinh mơ, ngoài đường hầu như chẳng có ai, chỉ có những người bán muối. Họ gánh muối trên vai, đi hết ngõ này sang ngõ khác. Ở Hà Nội, tiếng rao sáng mùng Một ngắn gọn thế này: Ai mua muối lộc đi.
Thời chưa có nhiều túi gói sẵn, người bán đặt gánh xuống, xúc muối từ chiếc thúng lớn sang một cái bát cho từng người mua. Muối đầy tới miệng bát, rồi vẫn được vun thêm, nhô lên thành một ngọn nhỏ. Người bán không gạt cho bằng. Bên gánh muối đầu năm, chẳng ai mặc cả. Người mua vui, người bán cũng vui.
Có người lớn lên ở vùng quê chiêm trũng vẫn nhớ, hồi bé, muối được gói trong lá chuối, lá khoai hay lá dong. Bây giờ, muối nằm trong túi nhỏ, có khi trong phong bao đỏ. Ở Hà Nội có một người bán muối, cứ qua giao thừa là ra ngõ. Mỗi phần muối kèm một bao diêm, về sau là chiếc bật lửa. Muối có lửa đi cùng, người ta bảo đó là chút hơi ấm không tắt.
Người bán muối thường cũng là người làm muối. Ở Diễn Châu, xứ Nghệ, có một xóm làm muối ven biển. Đến Tết, có những gia đình trong xóm đem muối nhà mình làm được đi bán, bắt đầu từ tinh mơ ngày mùng Một. Từ xóm biển, họ chở muối ngược lên những vùng đồi núi như Thanh Chương, Tân Kỳ, Quỳ Hợp hay Nghĩa Đàn. Ngày trước họ đạp xe, về sau phần nhiều đi xe máy. Sáng ra đi, chạng vạng mới về tới nhà.
Lên tới nơi, bát muối cũng được vun đầy như dưới xuôi. Người mua ở đó hiếm khi mặc cả, có người còn gửi thêm chút ít làm quà mừng năm mới. Một người bán trong xóm bảo, đi bán muối Tết mà như đi thăm bạn thân. Hồi trước nữa, có nhà còn đổi muối lấy gạo, lấy khoai lang của bà con vùng đồi.
Vì sao lại là muối? Mỗi người nói một kiểu. Có người cho rằng muối xua được những điều xấu, đem may mắn vào nhà.
Người khác lại nói cái quý nằm ở vị mặn. Mặn là đậm đà, là bền chặt. Với họ, mua muối đầu năm là mong vợ chồng hòa thuận, con cháu quây quần, người trong nhà gắn bó với nhau. Ca dao có câu nói về nghĩa vợ chồng:
Tay nâng chén muối đĩa gừng.
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
Lại có người nghĩ giản dị hơn: bếp nào cũng cần muối, nên mua muối đầu năm là mong cả năm đủ ăn.
Còn vôi thì đợi tới cuối năm. Cũng có người nghe cả câu như lời cha mẹ dặn con: đầu năm ăn dè, dành dụm dần, để cuối năm có tiền mua vôi về sửa nhà.
Người ta bảo cuối năm trời hanh khô, hợp cho việc xây sửa, mà ngày trước vôi lại là vật liệu chính để xây nhà. Nhà nào không xây mới thì cũng cọ rửa tường vách, quét lại một nước vôi để đón Tết.
Người lớn pha vôi rồi quét lên tường. Chổi quét tới đâu, tường trắng ra tới đó. Vôi dính vào da thì rát, bắn vào mắt thì đau, nên đây là việc của người lớn. Có người ví lớp vôi mới như một lần gột rửa: những điều không may của năm cũ được xóa đi, ngôi nhà như được làm lại từ đầu.
Vôi ngày Tết xưa không chỉ nằm trên tường. Hơn một trăm năm trước, ông Phan Kế Bính, người chép lại phong tục người Việt, đã kể về những hình vẽ bằng vôi. Tết đến, có những nhà rắc vôi bột ra sân, ra tận ngoài ngõ. Việc này người lớn làm: họ lấy vôi vẽ thành hình bàn cờ, hình cái cung, cái nỏ. Người xưa tin làm vậy để ma quỷ khỏi vào quấy nhà mình trong năm mới. Có nơi còn vẽ những vòng tròn, những cánh cung và mũi tên chĩa về phía cổng.
Trong nhà còn một vật nhỏ cũng chờ vôi cuối năm: cái bình đựng vôi ăn trầu. Người ta không gọi nó là cái bình, mà gọi là ông, ông bình vôi, như gọi một người lớn trong nhà.
Ông bình vôi tròn, có khi hơi thuôn, chỉ có một cái miệng nhỏ và một chiếc quai cong. Người lớn lấy vôi ra bằng một que nhỏ gọi là chìa vôi. Vôi trong bình cũng làm rát da, nên chìa vôi chỉ người lớn cầm. Năm này qua năm khác, vôi bám quanh miệng bình, kết lại thành hoa vôi. Cổ bình cứ dày dần lên, cho tới ngày dày quá, không dùng được nữa.
Nhà có khách là có miếng trầu mời. Ông bà vẫn nói, miếng trầu là đầu câu chuyện. Chủ nhà quệt chút vôi lên lá trầu, rồi têm cùng một miếng cau. Nhai trầu là chuyện của người lớn.
Cuối năm, người ta mua vôi về đổ thêm cho ông đầy bình, để mấy ngày Tết có khách tới chúc năm mới là có ngay miếng trầu mà mời. Ai được thương mà mau quên ơn, ông bà vẫn chê là bạc như vôi. Vì thế đầu năm người ta kiêng đổ thêm vôi, ngại dính cái chữ bạc. Người xưa chăm đổ cho bình lúc nào cũng có vôi, như gửi một lời mong cho nhà mình năm nào cũng đủ đầy.
Ở miền Bắc và miền Trung ngày trước, ông bình vôi già, không dùng được nữa, cũng chẳng bị vứt đi. Người ta đem ông ra đặt dưới gốc một cây cổ thụ trong làng, có khi bên gốc đa, có khi cạnh một ngôi miếu.
Có nhà nghiên cứu về làng Việt nghĩ rằng, thuở ban đầu, câu nói chỉ là lời nhắc sắm cho đủ đồ dùng dịp Tết, trong đó có muối và vôi. Ông cho rằng lâu dần, người ta gửi thêm vào đó những điều mình tin, năm nào cũng làm, thành tục.
Một nhà nghiên cứu văn hóa khác lại nhìn muối và vôi theo cách riêng. Muối là để gắn bó. Vôi là để gột rửa, làm mới. Nhà nghiên cứu này cho rằng người Việt xưa nghĩ về thời gian như một vòng tròn: cuối năm là lúc gột rửa cho sạch, đầu năm là lúc bắt đầu lại.
Nếu nhìn theo vòng tròn ấy, câu nói cũ nghe không còn ngược đời nữa: lớp vôi trắng như tiễn năm cũ đi cho sạch, bát muối trắng như đón năm mới về cho bền. Hai thứ bột trắng đứng ở hai cửa của một năm.
Sáng mùng Một, có khi sau lưng người mua là bức tường vừa quét vôi trước Tết, còn trắng mới. Bát muối đã đầy, người bán vẫn xúc thêm, như lời chúc đầy đặn cho trọn một năm. Muối nhô cao khỏi miệng bát, và người bán để nguyên như thế, không gạt đi một hạt nào.