Đền Bà Triệu
Năm hai trăm bốn mươi tám sau Công nguyên. Một người phụ nữ hai mươi ba tuổi, từ vùng núi Ngàn Nưa ở xứ Thanh, dẫn đầu một đội nghĩa quân tràn xuống tấn công thành trì của quân đô hộ Đông Ngô.
Người phụ nữ đó tên là Triệu Thị Trinh. Và hơn một nghìn bảy trăm năm sau, chúng ta đang đứng trước khu di tích lịch sử nơi người dân xứ Thanh lưu giữ ký ức về bà.
Triệu Thị Trinh sinh năm hai trăm hai mươi sáu, tại vùng núi Quân Yên thuộc đất Cửu Chân xưa, nay thuộc vùng Yên Định, Thanh Hóa. Bà là em gái của Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng địa phương có thế lực. Hai anh em cùng xây dựng căn cứ tại vùng núi Ngàn Nưa để chuẩn bị khởi nghĩa. Khi Triệu Quốc Đạt mất vì bệnh, nghĩa quân suy tôn Triệu Thị Trinh làm chủ tướng. Bà khi đó vừa bước sang tuổi đôi mươi.
Từ căn cứ núi Ngàn Nưa, nghĩa quân tiến xuống tấn công thành Tư Phố, giải phóng các huyện lân cận. Tại làng Bồ Điền, tức xã Triệu Lộc ngày nay, ba anh em họ Lý tên là Lý Công Thành, Lý Công Hoằng và Lý Công Mỹ đứng lên hưởng ứng. Miếu Bàn Thề vẫn còn trong khuôn viên di tích hôm nay, tương truyền đây là nơi ba vị ấy tuyên thề đi theo nghĩa quân Bà Triệu. Cuộc khởi nghĩa lan rộng khắp Giao Châu, gây chấn động chính quyền đô hộ.
Nhà Đông Ngô đáp trả bằng cách cử Lục Dận, Thứ sử Giao Châu, đem tám nghìn quân đến đàn áp. Sau hơn hai tháng bao vây, nghĩa quân bị tổn thất nặng vì chênh lệch vũ khí và quân số. Ngày hai mươi hai tháng hai năm Mậu Thìn, tức năm hai trăm bốn mươi tám, Triệu Thị Trinh hy sinh trên đỉnh núi Tùng. Bà hưởng dương hai mươi ba tuổi. Ba tướng họ Lý tiếp tục chiến đấu đến người cuối cùng.
Khu di tích ngày nay tọa lạc trên diện tích ba phẩy tám héc ta, tại thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Lối vào là nghi môn ngoại, bốn trụ đá nguyên khối chạm trổ hình chim phượng và nghê chầu. Đá ở đây nhiều phần được lấy từ núi Nhồi, loại đá xanh nổi tiếng bền và đẹp của xứ Thanh.
Đi qua nghi môn là hồ sen hình chữ nhật. Hồ được bố trí theo phong thủy truyền thống để tụ khí, dẫn hướng người hành lễ vào không gian thiêng. Đây là cách bố cục đình đền miền Bắc Việt Nam đã dùng hàng trăm năm.
Bước vào đền, ta đi qua ba khu chính. Tiền đường có mười hai cột đá núi Nhồi và thờ bách gia trăm họ. Trung đường là gian giữa, nơi thờ Bà Triệu, có những bức đại tự và những vì kèo chạm trổ tinh xảo. Hậu cung thờ cả gia đình bà. Gian giữa là Bà, hai gian bên thờ thân phụ và thân mẫu. Tại di tích này đang lưu giữ hai trăm chín mươi bảy cổ vật từ cuối thế kỷ mười bảy đến đầu thế kỷ hai mươi, trong đó có mười cuốn thần phả viết bằng chữ Hán và sáu mươi lăm đạo sắc phong của các vua qua nhiều triều đại.
Sáu mươi lăm đạo sắc phong. Điều đó có nghĩa là các triều đình phong kiến Việt Nam liên tục nhớ đến Bà Triệu và phong tặng danh hiệu cho bà suốt nhiều thế kỷ.
Với ai đủ sức khỏe, hành trình lên đỉnh núi Tùng là phần không nên bỏ qua. Trước mặt là hơn ba trăm bậc đá khá dốc. Dưới chân núi Tùng, trên đường lên, có mộ của ba vị tướng họ Lý.
Trên đỉnh núi là lăng mộ Bà Triệu. Đây là công trình hình trụ đứng tứ giác, hai tầng mái, cao năm phẩy tám mét tính từ mặt nền, toàn bộ chế tác từ đá xanh nguyên khối và được trùng tu năm hai nghìn không trăm lẻ năm. Nơi trang nghiêm nhất trong toàn bộ quần thể cũng chính là nơi người phụ nữ hai mươi ba tuổi ấy đã dừng lại, hơn một nghìn bảy trăm năm về trước.
Đứng trên đỉnh núi Tùng một lúc, có thể nhìn bao quát vùng Hậu Lộc phía dưới. Và cả nhà có thể nghĩ đến điều này. Năm hai trăm bốn mươi tám, không có phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, không có quân đội chính quy, nhưng một người phụ nữ trẻ đã kéo theo cả một phong trào kháng cự lan khắp Giao Châu và khiến nhà Đông Ngô phải điều đến tám nghìn quân để đối phó.
Ngoài phần lên núi, ngay trong khuôn viên còn có Đình Phú Điền, được xây dựng năm một nghìn bảy trăm bảy mươi hai, nay vẫn còn giữ một số mảng chạm khắc gỗ thời Lê.
Khu di tích này được công nhận Di tích quốc gia đặc biệt năm hai nghìn không trăm mười bốn. Lễ hội đền Bà Triệu được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm hai nghìn không trăm hai mươi hai.
Hai danh hiệu quốc gia, một câu chuyện đã hơn một nghìn bảy trăm năm, và một người phụ nữ hai mươi ba tuổi mà tên bà vẫn được người đời sau nhắc đến mỗi ngày.