Đền Bắc Hà
Mùi khói nhang.
Chưa nhìn thấy gì, chưa biết mình đang đứng ở đâu, mà cái mùi ấy đã tới trước. Nó mỏng, ấm, hơi ngòn ngọt, len qua không khí lạnh buốt của một buổi sáng miền núi. Một sợi khói nhỏ bằng cây tăm bay lên, uốn nhẹ một vòng, rồi tan ra trước khi kịp chạm tới tán lá.
Mùi nhang buổi sớm là thứ mùi rất lạ. Nó không mạnh. Nhưng nó bám. Nó vướng vào tóc, vướng vào vai áo, và còn ở lại rất lâu sau khi người ta đã đi khỏi nơi ấy.
Rồi sương loãng dần. Bây giờ mắt mới nhìn thấy chỗ sợi khói kia bay lên.
Giữa vùng Bắc Hà của tỉnh Lào Cai, một mái ngói cong hiện dần ra khỏi lớp sương trắng. Mái ấy không cao, không đồ sộ, nhưng có dáng riêng, cong lên ở đầu mái như một nét bút được nhấc lên đúng lúc.
Trên bờ nóc, đôi rồng uốn mình quay đầu về một vầng trăng đặt chính giữa. Người xưa gọi hình ấy là lưỡng long chầu nguyệt. Rồng ở đây không dữ. Rồng chỉ chầu, tức là cúi mình hướng về, giống như cách người ta nghiêng đầu trước một điều mình quý trọng.
Tường hồi hai bên xây gạch, trên mặt tường lại có hình rồng nữa, những đường uốn chạy dài theo bức tường im lìm. Nâng đỡ tất cả là bộ khung gỗ. Gỗ đã sẫm màu vì mưa, vì nắng, vì bao mùa sương của vùng cao. Chạm tay vào cột, đầu ngón tay sẽ nhận ra thớ gỗ nổi lên, vừa nhám vừa mát.
Ngôi đền này được dựng từ thế kỷ mười chín.
Bước qua cửa là tiền tế, nơi đặt bàn thờ, nơi người ta dâng hương. Sâu vào bên trong nữa là hậu cung, phần trong cùng và trầm nhất của ngôi đền. Ánh sáng trong đó đi chậm. Ai bước vào cũng tự hạ giọng, tự đi nhẹ chân hơn, không ai phải nhắc ai.
Vậy sợi khói buổi sáng ấy được thắp lên để nhớ về người nào?
Đền Bắc Hà thờ Gia Quốc công Vũ Văn Mật, sinh năm một nghìn bốn trăm chín mươi ba, mất năm một nghìn năm trăm bảy mươi mốt.
Từ năm một nghìn năm trăm mười sáu, dưới triều vua Lê Chiêu Tông, ông có mặt ở vùng Bắc Hà và lập căn cứ tại động Ngọc Uyển. Thử hình dung việc ấy. Một người đàn ông đặt chân vào vùng núi cao, nơi đường thì dốc, sương thì dày, và mỗi thung lũng lại có một tiếng nói riêng.
Điều đáng nhớ nhất ở ông không nằm ở thành lũy. Nó nằm ở cách ông chiêu mộ các tộc người thiểu số nơi đây.
Chiêu mộ không phải là ép. Chiêu mộ là gọi, và người ta nghe tiếng gọi ấy thì tự mình đi theo. Muốn được như vậy, ông phải sống giữa họ đủ lâu để họ tin. Phải ăn cùng bữa cơm. Phải leo cùng con dốc. Phải giữ lời hứa nhiều lần liên tiếp, kể cả những lần nhỏ nhặt nhất. Lòng tin ở vùng cao không mua được bằng gì cả. Nó chỉ được trao.
Có những con người ấy đứng cạnh, Vũ Văn Mật trấn giữ biên ải phía Bắc. Ông giữ vùng biên đó suốt thời nhà Mạc, hết năm này qua năm khác, khi triều đình dưới xuôi đổi thay mà núi rừng trên này thì vẫn cần người đứng gác.
Rồi ông mất. Và đây mới là chỗ lạ của câu chuyện.
Ngôi đền gỗ có đôi rồng chầu trăng kia mãi tới thế kỷ mười chín mới được dựng lên, nghĩa là rất lâu sau khi ông không còn nữa. Trong quãng thời gian dài đằng đẵng đó, cái tên Vũ Văn Mật không nằm trong sách vở. Nó nằm trong miệng người, truyền từ ông bà xuống con cháu, cho tới ngày con cháu ấy đủ lớn để dựng cho ông một mái nhà bằng gỗ.
Ngày hai mươi chín tháng mười năm hai nghìn lẻ ba, đền Bắc Hà được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Nhưng ngày ngôi đền tỉnh dậy và đông vui nhất là mùng mười tháng Hai âm lịch.
Đó là ngày lễ hội đền Bắc Hà, tổ chức đều đặn hằng năm. Buổi sáng hôm ấy, mùi nhang không còn là một sợi mảnh nữa. Nó dày lên, ấm lên, quyện vào hơi người và mùi vải áo mới. Người ta dâng hương, rồi rước kiệu.
Kiệu đi chậm. Người khiêng kiệu bước đều, vai kề vai, mắt nhìn thẳng. Lũ trẻ chạy dạt sang hai bên, ngoái lại nhìn, rồi lại chạy tiếp cho kịp. Xong phần lễ là tới phần hội với những trò chơi dân gian, tiếng reo hò bật lên từng đợt, có đợt vỡ òa, có đợt tiếc rẻ, rồi lại reo.
Người vùng này còn kể cho nhau nghe nhiều chuyện xưa về ngôi đền và về Gia Quốc công. Những chuyện ấy là lời truyền miệng, ông kể cho cha, cha kể cho con, chứ không phải điều sử sách chép lại. Người kể thường hạ giọng ở đoạn cuối. Người nghe thì im lặng một lúc, rồi mới hỏi tiếp.
Chiều xuống, hội tan, tiếng người thưa dần theo con dốc.
Ở tiền tế, một người vừa cắm xong nén nhang, lùi lại một bước rồi đứng yên. Sợi khói lại mỏng đúng như lúc sáng sớm. Nó đi lên, chạm vào bộ khung gỗ sẫm màu, đi qua đôi rồng đang chầu vầng trăng trên bờ nóc, rồi tan vào sương núi Bắc Hà. Mùi ấy sẽ theo người ấy về tận nhà, vương trên vai áo, nhắc rằng ở nơi này từng có một người đã tới, đã ở lại, và vẫn được nhớ.