Đền Bạch Mã
Giữa lòng phố cổ Hà Nội ồn ào nhất, ngay trên phố Hàng Buồm, có một ngôi đền hơn một nghìn năm tuổi.
Đứng trước cổng số bảy mươi sáu, nhìn vào, không ai đoán được không gian phía sau. Bên ngoài là xe máy, khách du lịch, hàng quán. Bên trong là không gian trầm mặc, mái ngói cong vút, cột gỗ chạm trổ, khói hương. Hai thế giới chỉ cách nhau một cái cổng.
Đền Bạch Mã có lịch sử bắt đầu từ khoảng năm tám trăm sáu mươi sáu, thời nhà Đường đô hộ Việt Nam, khi tướng Cao Biền cho xây thành Đại La, tiền thân của Hà Nội. Khi đó đền đã được dựng ở vị trí này. Nghĩa là khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Đại La năm một nghìn không trăm mười, đền đã có sẵn hơn một trăm bốn mươi năm.
Đền thờ thần Long Đỗ. Tên ấy nghĩa là "Rốn Rồng". Theo quan niệm phong thuỷ Á Đông, mỗi vùng đất có "long mạch", tức mạch rồng chạy qua, và "rốn rồng" là điểm trung tâm tụ khí của vùng đó. Hà Nội nằm giữa sông Hồng và sông Tô Lịch, được coi là có rốn rồng mạnh. Thần Long Đỗ là vị thành hoàng của toàn bộ vùng đất Đại La, Thăng Long, Hà Nội qua suốt các thời đại.
Tên "Bạch Mã" gắn với hai truyền thuyết, chồng lên nhau qua hai thế kỷ khác nhau.
Truyền thuyết thứ nhất, thế kỷ thứ chín. Khi tướng Cao Biền xây thành Đại La, theo truyền thuyết ông có ý định dùng phép thuật để yểm vùng đất này. Trong giấc mơ, thần Long Đỗ cưỡi ngựa trắng từ trên trời xuống và nói: "Ta là thần Long Đỗ ở đây đã lâu. Nghe ông xây thành nên đến gặp. Cớ gì phải yểm?" Cao Biền sợ, không dám yểm và cho lập đền thờ thần Long Đỗ. Đó là điểm khởi đầu của Đền Bạch Mã.
Truyền thuyết thứ hai, năm một nghìn không trăm mười. Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La, đổi tên thành Thăng Long. Cho xây thành mới nhưng tường cứ đắp lên là sập. Vua sai người đến đền Long Đỗ cầu khấn. Một con ngựa trắng từ đền đi ra, đi vòng từ đông sang tây, để lại dấu chân rồi quay về đền và biến mất. Vua xây thành theo đúng dấu chân ngựa trắng. Lần này thành đứng vững. Sau khi xây xong, vua truy phong thần Long Đỗ là "Thành hoàng Đại Vương quốc đô Thăng Long".
Cả hai truyền thuyết đều có ngựa trắng. Đó là lý do đền có tên Bạch Mã, nghĩa ngựa trắng. Trong cung cấm của đền hôm nay có tượng ngựa trắng, cùng với long ngai và bài vị thờ thần Long Đỗ. Đó là hình ảnh vật chất của hai truyền thuyết.
Đền Bạch Mã là trấn phía Đông trong Thăng Long Tứ Trấn, hệ thống bốn đền bảo vệ kinh thành từ thời Lý. Ngày mười tám tháng một năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, cùng ba đền kia là Quán Thánh, Voi Phục, Kim Liên, đền Bạch Mã được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt.
Kiến trúc đền hiện tại chủ yếu là thời Nguyễn, đầu thế kỷ mười chín. Đi theo trục vào: Nghi Môn ngoài, Phương Đình tức sân lễ hình vuông, Đại Bái nơi tế lễ, Thiên Hương trung gian, và Cung Cấm sâu nhất. Mái ngói cong vút, hoành phi câu đối chữ Hán ca ngợi thần Long Đỗ và lịch sử Thăng Long.
Lễ hội chính là ngày mười hai và mười ba tháng Hai âm lịch hằng năm. Có rước kiệu, tế lễ, hát truyền thống, các trò dân gian.
Phố Hàng Buồm trước đền xưa là phố thương nhân Hoa kiều. Quanh đó còn có Hội quán Quảng Đông và Hội quán Phúc Kiến, dấu tích giao lưu văn hoá Hoa Việt qua nhiều thế kỷ. Mỗi bước chân trên con phố này là một lớp lịch sử.
Đứng trong Đại Bái nhìn vào Cung Cấm, cả nhà đang nhìn vào hơn một nghìn năm tín ngưỡng của người Hà Nội. Không phải hoành phi câu đối hay mái ngói mà tạo nên chiều sâu đó. Mà là tất cả những thế hệ đã đứng ở đây trước cả nhà, cũng nhìn vào cũng cầu nguyện.