Phố Hàng Đường
Đen, vàng, hồng. Trong những tủ kính dọc phố Hàng Đường, ô mai xếp thành từng dãy lọ, mỗi thứ một màu: ô mai mơ màu đen, ô mai gừng màu vàng, ô mai đào màu hồng. Phần lớn được làm từ sấu, mơ, mận, me, toàn những thứ quả chua đến nheo mắt, bày trên một con phố mang cái tên ngọt nhất Hà Nội. Muốn hiểu chuyện lạ ấy, phải đi thật chậm dọc con phố ngắn này, nhìn từng ô cửa, và nghe xem phố còn giữ những gì.
Hàng Đường dài chừng một trăm tám mươi mét, rộng tám mét. Một đầu phố chạm Hàng Ngang, đầu kia mở ra phố Đồng Xuân, giữa chừng cắt qua ngã tư Hàng Cá và Ngõ Gạch. Đi từ Hàng Đào lên Hàng Ngang rồi sang Hàng Đường, người ta đang bước trên một trục buôn bán lớn của khu phố cổ, cứ thế thẳng một mạch tới chợ Đồng Xuân.
Cái tên ấy có từ trước khi người Pháp đến. Thời Pháp thuộc, họ dịch thẳng sang tiếng của mình thành rue du Sucre, nghĩa là phố Đường. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, tên tiếng Việt được trả lại. Từ đó đến nay, qua bao lần phố phường đổi tên, cái tên ngọt ngào ấy vẫn ở yên chỗ cũ.
Đất dưới chân phố xưa kia thuộc về hai làng. Đoạn đầu là đất làng Vĩnh Thái, đoạn cuối là đất làng Đông Hoa Nội Tự. Và đây là một điều khó tin: ngày trước, sông Tô Lịch chảy ngang qua chỗ này rồi vòng lên phía Bưởi. Bắc qua sông là một cây cầu đá, gọi là Cầu Đông. Người xưa kể rằng ở đầu cầu có một pho tượng Phật bằng đá, ngồi và mỉm cười với người qua lại. Đoạn sông và cây cầu ấy giờ chỉ còn trong chuyện kể, và trong tên một ngôi chùa.
Ngôi chùa ấy nằm ngay trên phố, tên chữ là Đông Môn, người Hà Nội quen gọi là chùa Cầu Đông. Giữa những ô cửa hàng nối nhau, chùa nép mình khiêm tốn và tĩnh lặng. Trong chùa còn bốn tấm bia đá cổ, tấm sớm nhất dựng năm một nghìn sáu trăm hai mươi tư. Quả chuông đồng của chùa mang niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ tám, tức năm một nghìn tám trăm. Trên thân chuông có khắc chữ nhắc tới cây cầu đá ở phía đông và dòng sông Tô chảy bên trái chùa. Hơn hai trăm năm trước, quả chuông đã ghi lại đúng khung cảnh mà hôm nay người ta chỉ còn hình dung được.
Chùa còn giữ một câu đố chưa ai giải được. Bên trái điện thờ có hai pho tượng gỗ, là Thái sư Trần Thủ Độ và phu nhân Trần Thị Dung. Vì sao hai ông bà lại ngồi trong một ngôi chùa trên phố Hàng Đường, đến nay vẫn chưa ai biết chắc, bởi chùa không còn giữ thư tịch cổ nào kể về hai pho tượng ấy.
Cũng trên con phố ấy còn có đình Đức Môn. Người xưa kể rằng đình thờ Ngô Văn Long, một vị tướng giỏi thời Hùng Duệ Vương, đời Hùng Vương thứ mười tám. Lạ hơn nữa là đình Vĩnh Hanh, mang tên mới của làng Vĩnh Thái xưa. Ngôi đình nay nằm trên tầng ba của một ngôi nhà trong phố. Một ngôi đình làng ở trên tầng ba, nghe thôi đã thấy lạ.
Bây giờ, quay lại với vị ngọt. Trước kia, phố Hàng Đường chuyên bán mứt, bánh, kẹo, những thứ món nào cũng cần đến đường. Hầu như nhà nào trên phố cũng làm mứt. Những ngày giáp Tết, các nhà bắc bếp ra nấu chảo mứt ngay trên vỉa hè. Trái cây sên trong đường, mùi thơm ngọt dịu bay khắp đầu phố. Người đi ngang chưa kịp nhìn thấy hàng đã ngửi thấy Tết.
Đến những năm một nghìn chín trăm bốn mươi, vài hàng ô mai nho nhỏ bắt đầu xuất hiện. Người làm nghề lâu năm kể rằng những thứ ô mai đầu tiên là mận xào và me xào, còn ô mai mơ thì đến sau. Rồi từng nhà, từng nhà một, ô mai lan ra khắp con phố, cho tới ngày Hàng Đường được người ta gọi là phố ô mai.
Chuyện lạ lúc đầu hóa ra giản dị lắm. Ô mai làm từ những thứ quả chua như sấu, mơ, mận, me, khế, quất, cùng với gừng cay. Nhưng thứ giữ cho vị chua ấy dịu lại, dẻo lại, chính là đường. Người thợ còn thêm muối, gừng, vôi, phèn chua và cam thảo, mỗi thứ một chút, gia giảm theo tay nghề. Thanh ô mai ngon phải dẻo quánh, có đủ chua, cay, mặn, ngọt, các vị hòa vào nhau mà không lẫn vào nhau.
Ô mai trên phố có chừng sáu mươi đến bảy mươi loại, mỗi nhà một cách làm, một bí quyết ngâm tẩm và phơi sấy của riêng mình. Ô mai không ăn vội được. Phải nhấm nháp từng chút, từng chút một, cho vị chua tan dần ra trên đầu lưỡi. Trẻ con ăn vì thích. Người lớn ăn vì nhớ.
Ngày xưa, Tết đến, chủ nhà mời khách đĩa mứt bên ấm trà, cho câu chuyện thêm đậm đà. Mâm mứt ngày Tết còn được bày đủ năm màu xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, mong một năm mới cân bằng và may mắn. Ông bà xưa tin rằng mứt gừng giúp đỡ cảm lạnh, mứt quất làm dịu cơn ho, còn ô mai ngậm cho êm cổ. Người Hà Nội có người thân ở miền Nam thường chọn ô mai sấu làm quà, gửi theo một chút vị Hà Nội vào thật xa.
Hôm nay, phố không còn những chảo mứt nghi ngút trên vỉa hè. Phần lớn mứt đã làm bằng máy, chỉ còn vài nhà giữ cách làm thủ công, tự tay chỉnh lượng đường và độ lửa cho từng loại quả. Mặt phố bây giờ là những tủ kính, những dãy lọ ô mai, những hộp quà xếp ngay ngắn. Phố đông nhất vào những ngày trước Tết Nguyên Đán và trước rằm Trung Thu.
Đi hết Hàng Đường, dòng người cứ thế chảy về phía chợ Đồng Xuân. Sau lưng là ngôi chùa nhỏ giữ tên một cây cầu đã mất, là ngôi đình làng ở trên tầng ba, là cái tên mà người Pháp từng dịch thành phố Đường. Một viên ô mai đặt lên đầu lưỡi. Chua trước, rồi cay, rồi mặn. Và cuối cùng, chậm rãi, vị ngọt hiện ra.