Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Phố Hàng Buồm

0:000:00

Hà Khẩu nghĩa là cửa sông. Đó là tên một phường của kinh thành Thăng Long thời Lê, nằm ngay nơi dòng Tô Lịch gặp sông Hồng. Ở cửa sông ấy, thuyền ghé vào, hàng bốc lên, người gọi nhau í ới. Trên đất phường cửa sông có một khúc phố nhỏ mà tên gọi gắn liền với những con thuyền. Đó là phố Hàng Buồm.

Ngày xưa, Hà Nội quay mặt ra sông. Sông là đường lớn, thuyền bè tấp nập. Hàng cồng kềnh như gỗ, tre nứa thì bốc ngay ở bờ sông, còn những thứ hàng khác theo dòng Tô Lịch đi vào tận chợ trong phố. Thuyền thời ấy chạy bằng sức gió. Mà đã đi bằng gió thì thuyền nào cũng cần buồm, buồm rách phải vá, buồm cũ phải thay. Thế là trên con phố gần bến nước này, người ta bán buồm và sửa buồm cho những con thuyền ghé lại.

Cái tên Hàng Buồm gọi đúng món hàng từng bán tập trung ở đây, đọc lên còn vương hơi gió sông.

Phạm Đình Hổ, một nhà nho sống vào cuối thế kỷ mười tám, đầu thế kỷ mười chín, đã viết về những phiên chợ của kinh thành trong cuốn Vũ trung tùy bút. Ông kể phiên chợ phường Bạch Mã, tức đất Hàng Buồm, là một chỗ buôn bán rất huyên náo. Ở những phiên chợ đông như thế, kẻ gian có khi hô hoán lên là voi lồng, ngựa sổng, cho người đi chợ hoảng hốt xô nhau chạy, rồi thừa lúc lộn xộn mà lấy trộm hàng hóa. Đủ biết chợ ngày ấy đông đến mức nào.

Gần cửa sông, gần chợ, gần bến, các nhà buôn tìm đến. Từ thời Lê Trung Hưng, người Hoa đã có mặt ở đất Hàng Buồm. Rồi người mỗi ngày một đông, phần lớn làm nghề buôn bán. Họ có mối giao thương với các thương nhân vùng Hoa Nam và Đông Nam Á, nên chẳng bao lâu đã trở nên khá giả. Nhiều gia đình trong số ấy có quê gốc ở Quảng Đông.

Năm một nghìn tám trăm lẻ ba, tức năm Gia Long thứ hai, người Hoa ở Hàng Buồm góp tiền dựng một hội quán to rộng ở đầu phố, nay là số hai mươi hai. Đó là Hội quán Quảng Đông, nơi người đồng hương xa quê tụ họp và thờ phụng. Bên trong có ban thờ Quan Công và ban thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Trong hội quán còn một tấm biển nói rằng buôn bán phải lấy sự công bằng làm gốc, nên người ta đoán đây cũng là nơi các nhà buôn ngồi lại để phân xử chuyện làm ăn với nhau.

Về sau, ngôi nhà cổ ấy có chừng bốn mươi năm làm trường mẫu giáo. Trùng tu xong vào cuối năm hai nghìn hai mươi mốt, nơi đây thành Trung tâm Văn hóa nghệ thuật hai mươi hai Hàng Buồm.

Đối diện hội quán, thuở trước có một trường tiểu học dành cho con em người Hoa, hai dãy nhà hai tầng quây quanh một khoảng sân rộng. Chỗ ấy nay là trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội, ở số mười chín. Phía đầu phố ngày ấy, nhà gác thấp nhưng lòng rộng, ít gian bán lẻ, phần nhiều là nhà ở, kho hàng, hoặc văn phòng của những hãng gửi hàng đi Hồng Kông, Thượng Hải.

Khúc giữa phố thì khác hẳn. Ở đó san sát những cao lâu lớn nhỏ, tức những hiệu ăn của người Hoa nấu các món đặc biệt của họ, mở cửa suốt ngày cho tới khuya. Còn khúc phố giáp Hàng Ngang lại có nhiều hiệu bán dược liệu Đông y. Chỉ một con phố, vậy mà mỗi khúc mang một nhịp sống riêng.

Giữa những nhịp sống ấy, ở số bảy mươi sáu, là đền Bạch Mã. Đây là một trong Thăng Long Tứ trấn, bốn ngôi đền thờ bốn vị thần giữ bốn hướng kinh thành. Đền Bạch Mã trấn phía Đông, thờ thần Long Đỗ, và là ngôi đền có lịch sử lâu đời nhất trong bốn đền.

Người xưa kể rằng khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, thành đắp đến đâu lở đến đó. Nhà vua sai người đến đền cầu thần Long Đỗ. Bỗng từ trong đền có một con ngựa trắng đi ra. Người ta theo dấu chân ngựa mà đắp, thì thành mới vững. Vua phong thần làm Thành hoàng kinh đô, và ngôi đền từ đó mang tên Bạch Mã, nghĩa là ngựa trắng.

Ngôi đền đã hơn nghìn năm tuổi, trùng tu nhiều lần, dáng hôm nay mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Trong đền còn giữ văn bia, sắc phong, chuông đồng và kiệu rước. Năm hai nghìn hai mươi hai, đền Bạch Mã cùng ba ngôi đền trấn kia được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Mỗi năm, vào ngày mười hai và mười ba tháng Hai âm lịch, đền mở hội, tín ngưỡng dân gian hòa cùng nghi thức cung đình.

Rồi thời thế đổi thay. Thời Pháp thuộc, tàu hơi nước dần thay cho thuyền buồm. Thuyền không cần gió nữa thì cũng chẳng cần buồm. Về sau, vận tải đường sông mai một, nhường chỗ cho đường bộ và đường sắt, và Hà Nội từ từ quay lưng lại với sông Hồng. Hàng Buồm không còn bán buồm. Nghề cũ lặng lẽ đi mất, chỉ còn cái tên, dấu tích của một thời thành phố quay mặt ra sông.

Nhưng con phố thì chưa bao giờ thôi đông vui. Có những năm, cứ tối cuối tuần, Hàng Buồm thành phố đi bộ, hàng nghìn lượt khách đổ về. Những người bán hàng rong bày lại các món quà vặt xưa, nào bỏng gạo, ngô xào, nào kẹo kéo, kẹo mạch nha.

Bây giờ, đứng giữa phố Hàng Buồm, cả nhà sẽ chẳng còn nghe tiếng buồm căng gió. Chỉ còn tiếng người nói cười, tiếng bước chân, đông vui huyên náo như phiên chợ phường Bạch Mã ngày nào. Nhưng nếu đứng lặng một chút, nhìn về phía sông Hồng, có khi mình sẽ nghe ra trong cái tên của phố một tiếng gió rất xa, phần phật, phần phật, của những cánh buồm từng ghé lại nơi cửa sông.

Câu chuyện gần đây