Đền Mẫu Phố Hiến
Nhìn ra hồ Bán Nguyệt, mặt tiền hướng Tây Nam, có một ngôi đền mang tên Hoa Dương Linh Từ.
Hầu hết người đến Phố Hiến đều gọi ngôi đền này là Đền Mẫu. Đây là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, được công nhận từ năm một nghìn chín trăm chín mươi. Đền là một trong mười sáu di tích thành phần của Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến và là điểm tham quan quan trọng khi đến Hưng Yên.
Trung tâm thờ tự của Đền Mẫu là bà Dương Quý Phi đời nhà Tống, được người đời tán xưng là "Mẫu nghi thiên hạ". Theo thần phả và truyền tích địa phương được Ban Quản lý Di tích tỉnh Hưng Yên ghi lại, thi hài bà trôi dạt về vùng hạ lưu Đằng Giang, tức khu vực Phố Hiến ngày nay. Người dân nơi đây lập đền thờ bà, và mối liên hệ ấy đã gắn bó cộng đồng Phố Hiến với không gian thờ tự này qua nhiều thế kỷ.
Đền được khởi dựng vào thời Trần, năm một nghìn hai trăm bảy mươi chín, theo ghi chép của Ban Quản lý Di tích tỉnh Hưng Yên và Cục Di sản văn hóa. Trải qua các triều đại, đền được tu sửa nhiều lần. Lần đại trùng tu quan trọng nhất diễn ra vào năm Thành Thái thứ tám, tức năm một nghìn tám trăm chín mươi sáu dưới triều Nguyễn.
Khi đứng ở khu vực hồ Bán Nguyệt nhìn vào đền, điều đầu tiên cả nhà thấy là nghi môn, cổng vào có kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái với đầu đao uốn cong. Đây là lớp kiến trúc ngoài cùng đặt tông điệu cho toàn bộ không gian phía trong.
Trước khi bước vào sân đền, cả nhà dừng lại nhìn cây sanh si đa cổ thụ. Ban Quản lý Di tích tỉnh Hưng Yên và Cổng du lịch Hưng Yên đều mô tả cây đã hơn bảy trăm năm tuổi, ba thân cây quấn lấy nhau tạo thành thế kiềng ba chân. Hai nhà sử học Phan Huy Lê và Trần Quốc Vượng đã từng nhận định về giá trị của cây này đối với cảnh quan di tích vùng châu thổ Bắc Bộ. Bóng mát và vẻ cổ kính của cây tạo nên khung cảnh đặc trưng mà khách thường nhớ mãi sau khi rời đền.
Đi vào sân, qua thiêu hương rồi tiền tế, cả nhà vào không gian thờ tự chính. Cổng du lịch Hưng Yên mô tả thiêu hương có ba gian và tiền tế có ba gian, trang trí nhiều hoành phi, câu đối. Tiếp theo là các cung đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam theo trục nội tự.
Khu vực hậu cung là phần trang nghiêm nhất. Theo nguồn Ban Quản lý Di tích tỉnh Hưng Yên, hậu cung là nơi thờ và theo truyền tích địa phương cũng là phần mộ yên nghỉ của Mẫu Dương Quý Phi.
Bên trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị. Đó là hai cỗ kiệu bát cống và thất cống thời Hậu Lê, bộ long sàng và long kỷ. Ngoài ra còn có đôi lọ lục bình men rạn Bát Tràng thời Nguyễn, và bức châm của tiến sĩ Chu Mạnh Trinh viết năm một nghìn tám trăm chín mươi sáu. Đặc biệt đền còn lưu giữ mười lăm đạo sắc phong từ thời Hậu Lê đến triều Nguyễn. Sắc phong sớm nhất mang niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ bảy năm một nghìn bảy trăm mười một, sắc phong muộn nhất mang niên hiệu Khải Định thứ chín năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn. Mười lăm đạo sắc phong trải qua gần hai trăm mười ba năm là bằng chứng vật chất cho thấy đền đã được nhiều triều đại thừa nhận và bảo trợ.
Lễ hội Đền Mẫu diễn ra từ ngày mười đến ngày mười lăm tháng Ba âm lịch hằng năm. Lễ hội có tế lễ, rước kiệu, múa lân, múa rồng, rước nước, chọi gà và đánh cờ tướng theo các nguồn chính thức. Đây là dịp cộng đồng địa phương thể hiện sinh hoạt tín ngưỡng và bảo tồn bản sắc văn hóa Phố Hiến qua nghi lễ. Ngoài ra, ngày mười bốn tháng Bảy âm lịch là ngày mộc dục theo Cổng du lịch Hưng Yên, tức ngày người phụ trách thay áo cho Mẫu.
Một ngôi đền thờ bà Dương Quý Phi đời nhà Tống tại một thương cảng Việt Nam là điều hiếm gặp. Điều đó nói lên nhiều điều về Phố Hiến xưa, về giao lưu văn hóa trong không gian thương mại. Và về cách người Việt tiếp nhận những câu chuyện đến từ phương xa, rồi đặt vào không gian tín ngưỡng riêng của mình.
Đền Mẫu không chỉ là một điểm tham quan. Đây là nơi ký ức lịch sử và tín ngưỡng cộng đồng gặp nhau trên bờ hồ Bán Nguyệt của Phố Hiến.
---