Chuyen.AIPlaylist
Hưng Yên

Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần

0:000:00

Một cánh đồng mênh mông, phẳng lặng như bao cánh đồng khác của miền xuôi. Vậy mà cả một triều đại đã bắt nguồn từ chính nơi này.

Nhà Trần cai trị Đại Việt từ năm một nghìn hai trăm hai mươi sáu đến năm một nghìn bốn trăm. Đây là triều đại đã ba lần đánh tan quân Mông Cổ. Đây là triều đại sinh ra Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người được người đời sau kính như vị thần hộ quốc. Nhưng nếu hỏi vùng đất nào là cội nguồn của cả triều đại ấy, câu trả lời không phải Thăng Long, không phải Thiên Trường, mà là vùng Long Hưng, mảnh đất mà người đời nay vẫn coi là nơi phát tích của dòng họ Trần.

Hôm nay cả nhà đang đứng trên vùng đất đó.

Trước đây, người ta vẫn quen gọi nơi này theo địa chỉ thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Sau sắp xếp hành chính năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, khu vực thuộc về xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên. Tên địa danh thay đổi, nhưng lớp ký ức quan trọng nhất thì không. Từ thời nhà Lý, cụ Trần Hấp đã đưa mộ tổ Trần Kinh về vùng đất xưa gọi là Thái Đường này. Các đời sau, Trần Lý, Thái tổ Trần Thừa rồi đến các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đều gắn với vùng đất này.

Bây giờ, mình bước vào khu đền Vua.

Gian giữa thờ Trần Thái Tông, vị vua khai sáng triều Trần, người đã lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ năm một nghìn hai trăm năm mươi tám. Bên tả thờ Trần Thánh Tông, người đã nhường ngôi cho con trai là Trần Nhân Tông, rồi trên cương vị Thái thượng hoàng cùng con lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ hai năm một nghìn hai trăm tám mươi lăm. Bên hữu thờ Trần Nhân Tông, người đã cùng toàn dân đánh bại cuộc xâm lược lần thứ ba năm một nghìn hai trăm tám mươi tám, rồi sau đó xuất gia thành Phật hoàng ở Yên Tử.

Ba người thờ ở ba vị trí trong gian tiền điện. Ba triều vua. Ba lần chống Mông Cổ. Và đây là điều ít người nhớ tới: cả ba đều có cội nguồn từ vùng đất này, dù trong khi trị vì họ đóng đô ở Thăng Long.

Ở hậu cung, không gian thờ tự đi sâu hơn vào cội rễ của triều đại. Nơi đây đặt ban thờ Trần Hấp, Trần Kinh, Trần Lý, Trần Thừa là những người đặt nền móng cho sự nghiệp nhà Trần, cùng với Trần Thủ Độ, người quyền thần đã đưa nhà Trần lên ngôi, và Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung.

Sang Đền Thánh là không gian thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Tên ông gắn với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm một nghìn hai trăm tám mươi tám, gắn với bộ binh thư Binh thư yếu lược, và gắn với câu nói còn lại qua hàng thế kỷ: "Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc." Trần Quốc Tuấn không phải vua, nhưng được thờ cùng các vua trong khu di tích vùng Long Hưng, vì ông là biểu tượng của ý chí và sức mạnh mà triều Trần đã trao cho đất nước.

Đền Mẫu là nơi thờ Trần Thị Dung và các hoàng hậu, công chúa đầu triều Trần. Đứng trước không gian này, người ta dễ nhớ tới những người phụ nữ đã gánh phần hy sinh trong thời loạn, những người không chỉ bên cạnh các vua mà còn là một phần của cái nền đã đỡ cả triều đại đứng vững.

Phía trước khu đền là khu lăng mộ. Ba ngôi mộ lớn mà người dân địa phương gọi là phần Đa, phần Trung và phần Bụt. Ba ngôi mộ này tương truyền gắn với Chiêu Lăng, Dụ Lăng và Đức Lăng. Hai chữ tương truyền ấy đáng để nghe cho kỹ. Nó không làm câu chuyện nhẹ đi. Nó chỉ nói thật rằng ở mảnh đất này có những điều đã được ghi vào sử sách rõ ràng, và có những điều chỉ còn sống trong trí nhớ của người làng, đời trước kể lại cho đời sau. Cả hai lớp ấy cùng nằm yên dưới ba gò mộ này.

Khu di tích được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt từ cuối năm hai nghìn không trăm mười bốn.

Ai đến vào mùa lễ hội sẽ thấy không gian này sống động theo một nghĩa khác. Lễ hội Đền Trần vùng Long Hưng diễn ra vào tháng Giêng âm lịch, với nghi lễ dâng hương, rước thủy, rước bộ, tế lễ và phần hội truyền thống. Lễ hội đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm hai nghìn không trăm mười bốn.

Đứng lặng một chút trước những gò mộ lớn, nhìn ra cánh đồng Long Hưng vẫn mênh mông, phẳng lặng như bao đời nay. Từ mảnh đất bình thường này, một dòng họ đã gánh trên vai ba lần giặc đến, và ba lần giữ nguyên bờ cõi. Không có bia đá nào cần ghi thêm gì nữa.

---

Câu chuyện liên quan