Đền Thờ Chu Văn An
Có một người đã được hai vị vua gọi là thầy. Người đó cũng đã dũng cảm gửi một bản sớ mà cả triều đình biết là có thể đánh đổi tính mạng ông. Và khi vua không nghe, ông lặng lẽ cởi quan phục, giao lại ấn triện, rồi lên núi.
Cả nhà ơi, chúng ta đang leo lên núi Phượng Hoàng, ngọn núi mà Chu Văn An chọn để sống những năm cuối đời và để mãi mãi yên nghỉ.
Đền thờ Chu Văn An, tên chữ là Phượng Sơn Linh Từ, tức "Đền thiêng núi Phượng", là Di tích Quốc gia từ năm một nghìn chín trăm chín mươi tám. Từ ngày mồng một tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, đền thuộc phường Chu Văn An mới của Thành phố Hải Phòng, tên phường được đặt theo chính người thầy lớn được thờ tại đây. Năm hai nghìn mười chín, UNESCO vinh danh Chu Văn An là Danh nhân văn hóa thế giới, một trong số ít người Việt Nam được vinh danh ở cấp độ này.
Chu Văn An sinh năm một nghìn hai trăm chín mươi hai tại thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì, thuộc Hà Nội ngày nay, không phải tại Chí Linh. Ông mở trường dạy học từ khi còn trẻ, học trò đông và nổi tiếng. Tài năng và đức độ của ông được vua Trần biết đến và mời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, chức quan đứng đầu trường quốc gia, vị trí cao nhất trong giáo dục thời đó. Cùng thời gian, ông dạy các hoàng tử, sau này trở thành vua Trần Hiến Tông và vua Trần Dụ Tông. Vì vậy ông được tôn là "thầy của vua", danh hiệu cực kỳ hiếm trong lịch sử Việt Nam.
Nhưng câu chuyện được nhớ đến nhiều nhất về Chu Văn An không phải chuyện ông dạy vua.
Đó là "Thất Trảm Sớ."
Đến triều vua Trần Dụ Tông, giữa thế kỷ mười bốn, triều Trần đang suy yếu. Bảy vị quan gian thần lộng hành trong triều mà vua không xử lý. Chu Văn An, người đã từng là thầy dạy chính vua Trần Dụ Tông, đã dâng "Thất Trảm Sớ": sớ yêu cầu vua chém bảy gian thần đó để cứu nguy triều đại. Tên sớ này có nghĩa đen là "Sớ chém bảy người."
Vua Trần Dụ Tông không nghe.
Chu Văn An từ quan. Ông nói không bằng lời, ông nói bằng hành động. Bỏ lại tất cả chức tước và bổng lộc, ông về núi Phượng Hoàng ở Chí Linh, ẩn cư và tiếp tục dạy học cho đến khi mất năm một nghìn ba trăm bảy mươi, thọ khoảng bảy mươi tám tuổi.
Thái độ của ông, không nói thẳng để được lòng vua, không nói khéo để được lòng quan, mà nói phải vì lợi ích quốc gia, là tinh thần "trung thần" mà Nho giáo Việt Nam tôn vinh cao nhất.
Học trò của Chu Văn An không kém về nhân cách. Phạm Sư Mạnh, một trong những học trò xuất sắc nhất, trở thành Nhập nội Hành khiển triều Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông, quê ở Kinh Môn. Sau cải cách hành chính năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, phường mới ở Kinh Môn, nơi có Đền Cao An Phụ, cũng được đặt tên là phường Phạm Sư Mạnh. Thầy có phường riêng, trò cũng có phường riêng, một cách bảo tồn lịch sử qua tên gọi hành chính rất đặc biệt.
Bây giờ cả nhà đứng trước đền chính. Hãy nhìn lên kiến trúc.
Đền có bố cục chữ Nhị, hai khối song song, mái chồng diêm hai tầng tám mái với tám góc đao cong, đặc trưng của đền thờ Bắc Bộ truyền thống. Năm gian tiền tế và một gian hậu cung. Họa tiết trang trí là tứ linh, Long, Ly, Quy, Phượng, và tứ quý, Tùng, Cúc, Trúc, Mai. Đặc biệt trên các y môn sơn son thếp vàng có họa tiết "rồng chầu hoa cúc mãn khai", biểu tượng của người quân tử trong văn hóa Đông Á.
Cả nhà có để ý rằng con đường lên đây đi qua rừng thông cổ thụ không? Núi Phượng Hoàng có hình dáng giống chim phượng, vì vậy có tên núi này. Đền tọa lạc đúng tại "mắt chim Phượng" theo phong thủy cổ: phía trước là núi Ngọc làm tiền án, phía sau là núi Phượng làm hậu trẩm, hai bên là núi Kỳ Lân và núi Phượng Hoàng chầu về. Người xưa tin rằng đây là thế đất linh thiêng nhất có thể chọn để thờ một bậc thầy lớn.
Mỗi năm vào ngày hai mươi tháng mười một, Ngày Nhà giáo Việt Nam, hàng nghìn thầy cô giáo từ khắp cả nước về đây dâng hương. Đây là ngôi đền duy nhất ở Việt Nam mà lễ hội gắn với ngày nghề giáo.
Đứng giữa rừng thông cổ thụ, nhìn lên mái đền chồng diêm tám góc đao vươn vào trời xanh, cả nhà sẽ hiểu vì sao người Việt Nam qua bao thế kỷ vẫn gọi Chu Văn An là "Vạn thế sư biểu", người thầy muôn đời.