Khu Di Tích Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Ông chưa từng làm vua, cũng chưa từng cầm quân ra trận. Vậy mà vua chúa và những người nắm quyền lớn nhất thời ấy đều tìm đến hỏi ý ông. Người ấy là Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Chúng ta đang đến thôn Trung Am, chính quê hương của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ ngày mùng một tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, sau sáp nhập hành chính, xã nơi có khu di tích này được đặt tên chính thức là xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặt theo tên Trạng Trình.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm một nghìn bốn trăm chín mươi mốt ngay tại làng Trung Am này, và mất năm một nghìn năm trăm tám mươi lăm, thọ khoảng chín mươi lăm tuổi. Ở thế kỷ mười sáu, sống thọ đến vậy đã là chuyện hiếm có.
Ông thi muộn. Khi đỗ Trạng nguyên khoa thi năm một nghìn năm trăm ba mươi lăm thời vua Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bốn mươi bốn tuổi. Đó là tuổi mà nhiều người đã qua thời đỉnh cao sự nghiệp. Ông làm quan triều Mạc tám năm, và trong thời gian đó đã dâng sớ tố cáo các quan tham, kiến nghị cải cách. Vua không nghe. Nguyễn Bỉnh Khiêm bèn từ quan, về quê.
Năm một nghìn năm trăm bốn mươi hai, ông lập Bạch Vân Am, tức Am Mây Trắng, ngay tại làng Trung Am để dạy học và sáng tác. Ông lấy hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ, người ẩn dật dưới mây trắng. Bạch Vân Am trở thành trung tâm học thuật và tư tưởng lớn của Bắc Bộ thế kỷ mười sáu. Học trò của ông, gồm những nhân vật như Phùng Khắc Khoan, tức Trạng Bùng, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyện, đã trở thành những quan đại thần, người phò nhà Mạc, người theo vua Lê, chúa Trịnh. Hai bên đối đầu nhau suốt thế kỷ mười sáu, mà bên nào cũng có học trò của ông.
Nhưng không chỉ học trò mới tìm về Trung Am.
Các vua nhà Mạc, triều đình ông từng làm quan, vẫn tìm hỏi ý kiến Trạng Trình. Trịnh Kiểm, người sau này trở thành chúa Trịnh, thế lực nắm quyền thực sự trong hơn hai trăm năm, cũng sai người đến hỏi ý kiến. Theo truyền thuyết được lưu truyền rộng rãi, Trạng khuyên Trịnh Kiểm bằng một câu: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản." Ý là cứ giữ vua Lê mà phụng thờ, thì lộc tự khắc về tay mình. Trịnh Kiểm nghe theo, giữ vua Lê làm bù nhìn và mình làm chúa. Chế độ vua Lê chúa Trịnh kéo dài hơn hai trăm bốn mươi năm, từ năm một nghìn năm trăm bốn mươi lăm đến năm một nghìn bảy trăm tám mươi sáu.
Và câu chuyện nổi tiếng nhất gắn với Trạng Trình là lời khuyên cho Nguyễn Hoàng.
Nguyễn Hoàng, em vợ của Trịnh Kiểm, sợ bị anh rể hại, đã sai người đến hỏi Trạng Trình xin lời khuyên. Truyền thuyết kể rằng, Trạng nói: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân," tức là "một dải Hoành Sơn, ngàn đời dung thân." Hoành Sơn ngày nay là dãy núi tạo ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Trị. Nghe lời, Nguyễn Hoàng xin vua cho vào trấn thủ Thuận Hóa năm một nghìn năm trăm năm mươi tám. Từ ông, dòng chúa Nguyễn truyền được chín đời ở Đàng Trong, rồi đến triều Nguyễn sau này. Tổng cộng gần bốn trăm năm dòng họ Nguyễn nắm quyền, trước ở phương Nam, sau trên cả nước.
Người đời vẫn kể rằng, lời của một người ẩn dật trong am cỏ đã góp phần định hình bốn trăm năm lịch sử đất nước.
Những lời khuyên ấy sống trong lời truyền tụng của dân gian, nên ta nghe chúng như nghe một truyền thuyết, chứ không như đọc một trang sử.
Tương tự như vậy, "Sấm Trạng Trình," tập hợp các bài thơ tiên tri được cho là của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là một di sản văn hóa quý giá nhưng cần hiểu đúng. Đây là cách dân gian Việt Nam tôn vinh trí tuệ của Trạng, không phải chiêm tinh thuần túy. Nhiều câu trong "Sấm" có thể do người đời sau thêm vào hoặc giải đọc theo cách phù hợp với thời điểm.
Khu di tích Đền Trạng Trình ngày nay là Di tích Quốc gia Đặc biệt từ năm hai nghìn mười lăm. Quần thể bao gồm đền thờ chính, tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm, lăng mộ, bảo tàng trưng bày, Bạch Vân Am phục dựng, vườn cây và đầm sen. Tất cả nằm ngay trên chính mảnh đất nơi ông sinh ra, sống và mất đi.
Lễ hội Trạng Trình diễn ra ngày hai mươi tám tháng mười một âm lịch hằng năm, ngày giỗ của ngài, với chương trình thơ nhạc về Trạng, giải vật truyền thống và các trò chơi dân gian.
Đứng trước tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm trong ánh sáng buổi sáng, dễ hình dung ra một ông già chín mươi lăm tuổi ngồi trong am cỏ, nhìn mây trắng bay qua và ngẫm về những biến cố của thiên hạ. Ông không cần ngai vàng, không cần ấn tín, ông chỉ cần trí tuệ. Và trí tuệ đó đã ảnh hưởng đến những thế lực chính trị lớn nhất của cả một thế kỷ.
Bên đầm sen trong vườn, hương hoa thoảng qua trong gió, cả nhà đang đứng trên chính mảnh đất nơi ông từng đi dạo hơn bốn trăm năm trước.