Khu lưu niệm Phan Bội Châu
Có những người đặt tên cho cả một thời đại mà họ đang sống. Phan Bội Châu là một người như vậy. Đầu thế kỷ hai mươi, khi Việt Nam còn nằm dưới ách thực dân Pháp và hầu hết người dân chưa tìm ra hướng đi, ông đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Không phải một mình. Ông kéo theo cả một thế hệ thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học, học để về thay đổi đất nước. Người ta gọi đó là phong trào Đông Du.
Hôm nay cả nhà mình đang đứng tại nơi ông sinh ra và lớn lên. Khu lưu niệm Phan Bội Châu tại Nam Đàn, Nghệ An.
Di tích này gồm hai điểm, cách nhau khoảng một rưỡi kilômét. Điểm quê ngoại ở thị trấn Nam Đàn là nơi chào đời và gắn với tuổi thơ của Phan Bội Châu. Điểm quê nội ở xã Xuân Hòa ghi dấu gốc rễ dòng họ. Cả nhà sẽ thăm điểm quê ngoại trước.
Khi bước vào, cả nhà chú ý lối đi vào khu quê ngoại: rộng một mét bảy, dài mười lăm mét rưỡi, hai bên có hàng chè mạn hảo và hai hàng cau. Những chi tiết nhỏ ấy, được Cục Di sản văn hóa ghi lại trong hồ sơ di tích, giúp ta hình dung không gian mà một cậu bé Nam Đàn đã lớn lên giữa đó.
Trong khu quê ngoại có ngôi nhà tranh và mảnh vườn của gia đình Phan Bội Châu. Nhà trên làm năm một nghìn tám trăm sáu mươi, diện tích bốn mươi sáu mét vuông, ba gian hai hồi theo kiểu nhà truyền thống xứ Nghệ thế kỷ mười chín. Nhà dưới nhỏ hơn và nằm vuông góc với nhà trên tạo thành chữ L. Đây là không gian thật, không phải dựng lại. Nhà đã tồn tại ở đây từ trước khi Phan Bội Châu ra đời.
Cổng du lịch Nghệ An nhắc đến các vật dụng như phản gỗ, án thư, cối xay lúa, khung cửi trong khuôn viên, những thứ gắn với ký ức tuổi thơ và gia đình cụ Phan. Đây là điểm để cả nhà đi chậm lại, không cần vội. Đứng trong sân, nhìn mảnh vườn và ngôi nhà tranh, thử hình dung cuộc sống của một gia đình hàn nho ở Nam Đàn hơn một trăm năm trước.
Phan Bội Châu sinh ngày hai mươi sáu tháng mười hai năm một nghìn tám trăm sáu mươi bảy. Tên khai sinh là Phan Văn San, hiệu Sào Nam. Ông xuất thân từ gia đình hàn nho, nhưng học rất giỏi. Năm một nghìn chín trăm, ông đỗ Giải nguyên, tức người đứng đầu kỳ thi Hương ở Nghệ An.
Nhưng ông không chọn con đường làm quan. Ông chọn con đường khác.
Năm một nghìn chín trăm linh bốn, ông thành lập Duy Tân hội. Năm một nghìn chín trăm linh năm, ông bắt đầu phong trào Đông Du, đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học hỏi. Năm một nghìn chín trăm mười hai, ông thành lập Việt Nam Quang Phục hội. Ông đi từ tổ chức này sang tổ chức khác, từ tư tưởng cải cách sang cách mạng vũ trang, liên tục tìm hướng đi mới cho dân tộc.
Ngày ba mươi tháng sáu năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, ông bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải, đưa về nước xét xử rồi quản thúc tại Huế. Từ đó đến cuối đời, ông sống ở Huế trong một căn nhà tranh ở dốc Bến Ngự. Ông mất sáng ngày hai mươi chín tháng mười năm một nghìn chín trăm bốn mươi.
Câu chuyện đó không kết thúc bằng chiến thắng. Không một phong trào nào ông khởi xướng thành công trong cuộc đời ông. Nhưng di sản ông để lại là một cách nhìn: đất nước có thể thay đổi nếu có người dám ra đi tìm đường, dám xây dựng tổ chức và dám trả giá.
Cổng du lịch Nghệ An ghi hằng năm di tích đón khách trong nước và quốc tế, trong đó có du khách Nhật Bản đến tham quan, nghiên cứu, tưởng niệm. Đó là lớp ký ức của phong trào Đông Du, khi một thế hệ thanh niên Việt Nam và người Nhật Bản từng gặp nhau trong cùng một giấc mơ về đất nước.
Nhà trưng bày trong khu lưu niệm được xây dựng năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy. Cục Di sản văn hóa ghi di tích lưu giữ một trăm ba mươi bốn tài liệu, hiện vật, trong đó có năm mươi mốt cổ vật và tám mươi ba di vật. Tại đây cả nhà có thể đi chậm qua từng hiện vật, từng tấm ảnh, từng trang tài liệu. Đây là phần giúp câu chuyện về Phan Bội Châu bớt trừu tượng và gần hơn với đời sống của con người thật.
Khu lưu niệm Phan Bội Châu được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm hai nghìn không trăm mười sáu. Đó là sự thừa nhận rằng cuộc đời và di sản của ông không chỉ thuộc về Nam Đàn hay Nghệ An. Nó thuộc về cả Việt Nam.