Dinh Độc Lập
Mười một giờ ba mươi phút trưa ngày ba mươi tháng tư năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm.
Một người lính trẻ vừa leo lên nóc của toà nhà này, kéo xuống lá cờ Việt Nam Cộng hoà và treo lên lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Cùng lúc, trong phòng họp bên dưới, Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng qua đài phát thanh.
Chiến tranh kết thúc. Đất nước thống nhất.
Cái cổng chính mà cả nhà đang nhìn thấy, chính là cổng mà hơn năm mươi năm trước, xe tăng số ba trăm chín mươi của quân Giải phóng đã húc đổ vào bên trong.
Toà nhà này có lịch sử gần một trăm sáu mươi năm với ba thời kỳ khác nhau.
Người Pháp xây dựng từ năm một nghìn tám trăm sáu mươi tám, hoàn thành năm một nghìn tám trăm bảy mươi ba và đặt tên Dinh Norodom, theo tên vua Campuchia Norodom thời đó. Đây là dinh Thống đốc Nam Kỳ, sau là dinh Toàn quyền Đông Dương. Một trung tâm quyền lực của cả một đế chế thực dân ở châu Á.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, Pháp giao dinh cho chính phủ Việt Nam Cộng hoà. Ngô Đình Diệm đổi tên thành Dinh Độc Lập và lên làm Tổng thống. Tám năm sau, ngày hai mươi bảy tháng hai năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai, hai phi công của chính Không quân Việt Nam Cộng hoà lái máy bay ném bom vào dinh trong âm mưu đảo chính. Cánh trái dinh sập hoàn toàn. Ngô Đình Diệm thoát nạn và quyết định phá toàn bộ dinh cũ, xây mới.
Người được mời thiết kế là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, sinh năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu. Năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, ông đoạt Grand Prix de Rome, giải thưởng kiến trúc danh giá nhất nước Pháp, và là người Việt đầu tiên đạt được vinh dự này. Ông trở về Việt Nam và thiết kế Dinh Độc Lập mới, khánh thành ngày ba mươi mốt tháng mười năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu.
Điều thú vị là Ngô Đình Diệm không kịp thấy dinh mới. Ông bị giết trong cuộc đảo chính của các tướng Việt Nam Cộng hoà năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba. Dinh mới được khánh thành dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người kế nhiệm sau đó.
Ngô Viết Thụ thiết kế dinh với một triết lý đặc biệt: kết hợp kiến trúc hiện đại phương Tây với triết lý Á Đông thông qua các hình chữ Hán ẩn trong mặt bằng. Nhìn từ trên cao, tổng thể ẩn hình chữ "Cát" hay "Hưng", mang nghĩa lành, hưng thịnh. Mặt chính diện ẩn chữ "Khẩu", đại diện cho tự do ngôn luận. Lầu thượng ẩn chữ "Trung", nghĩa là trung thực, ngay thẳng.
Một kiến trúc sư nói với người sẽ ở trong toà nhà này: hãy là người nói thật, nói ngay, và mang lại hưng thịnh cho dân.
Toà nhà có hơn hai mươi nghìn mét vuông sử dụng, hơn một trăm phòng, ba tầng chính, hai tầng lửng, và bên dưới là hai tầng hầm chỉ huy bê tông cốt thép. Hầm được thiết kế để Tổng thống có thể làm việc và chỉ huy trong thời chiến.
Khi khách tham quan hầm chỉ huy, sẽ thấy nguyên trạng từ ngày ba mươi tháng tư: phòng radio, phòng tác chiến với bản đồ chiến tranh, phòng họp, đường thoát hiểm. Như thể cuộc đầu hàng vừa xảy ra ngày hôm qua.
Sáng ba mươi tháng tư năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn. Lúc mười giờ bốn mươi lăm, xe tăng số tám trăm bốn mươi ba do Trung uý Bùi Quang Thận chỉ huy húc vào cổng phụ, cong cổng lại nhưng không đổ. Tiếp đó xe tăng số ba trăm chín mươi do Trung uý Vũ Đăng Toàn chỉ huy húc thẳng cổng chính, đẩy cổng đổ vào trong.
Bùi Quang Thận nhảy xuống xe, chạy vào trong dinh, leo lên nóc, kéo lá cờ Việt Nam Cộng hoà xuống và treo lên lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, lá cờ nửa đỏ nửa xanh có sao vàng, lúc khoảng mười một giờ ba mươi.
Cùng lúc đó, Tổng thống Dương Văn Minh, vừa lên chức được hai ngày để chuẩn bị bàn giao, tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn.
Hai xe tăng ba trăm chín mươi và tám trăm bốn mươi ba hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ở Hà Nội, cả hai đã được công nhận Bảo vật quốc gia. Tại sân Dinh Độc Lập có bản sao xe tăng tám trăm bốn mươi ba để khách chiêm ngưỡng.
Năm hai nghìn không trăm linh chín, dinh được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt trong đợt đầu tiên, cùng với Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám và bảy di tích khác.
Cả nhà đang bước vào một toà nhà mà lịch sử Việt Nam thế kỷ hai mươi đã diễn ra tại đây. Cái cổng đó vẫn còn đứng, lặng lẽ nhìn ra đường Nguyễn Du, như nhớ buổi sáng năm ấy.