Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Đô Giang Yển, công trình nước không cần đập

0:000:00

Đô Giang Yển không có đập.

Không phải đập đã hỏng. Cũng không phải đập bị dỡ đi. Suốt hơn hai nghìn hai trăm năm, công trình nước này vẫn ngày đêm trị một con sông lớn đổ từ núi cao xuống, chia nước, gạt cát, dẫn nước vào ruộng, mà chưa từng có lấy một bức tường nào chắn ngang dòng.

Muốn hiểu chuyện lạ này thì phải đứng ở đúng chỗ con sông Mân rời khỏi núi.

Sông Mân chảy xuống từ vùng cao phía tây. Tới khúc ấy, sông vừa thoát khỏi hẻm đá thì mặt đất đột ngột mở ra thành một đồng bằng rộng, đồng bằng Thành Đô. Từ chỗ sông ra khỏi núi tới thành phố Thành Đô chỉ chừng năm mươi cây số, mà đất tụt xuống tới hai trăm bảy mươi ba mét. Nước từ trên đó lao xuống. Mùa mưa thì tràn bờ nhấn chìm đồng ruộng, mùa khô lại rút cạn để đồng nứt nẻ. Một năm hai lần khổ, năm nào cũng vậy.

Khoảng năm hai trăm năm mươi sáu trước Công nguyên, một người tên Lý Băng được cử đến trông coi vùng đất Thục này. Ông đứng nhìn con sông rất lâu. Rồi ông quyết định một điều mà tới tận hôm nay các kỹ sư vẫn còn phải ngả mũ: ông sẽ không chặn dòng nước lại. Ông sẽ chia nó ra.

Việc đầu tiên là đắp một mũi đá ngay giữa lòng sông, đầu nhọn quay ngược lên phía thượng nguồn. Nhìn từ trên cao, mũi đá ấy giống hệt một cái miệng cá đang há ra đón nước, nên người ta gọi luôn là Ngư Chủy, nghĩa là miệng cá.

Nước chảy tới đây thì bị mũi đá xẻ làm đôi. Một nửa đi vào nhánh bên trong, nhánh này hẹp và sâu, dành để tưới ruộng. Nửa kia đi ra nhánh bên ngoài, nhánh này rộng và nông, dành để xả lũ và tống cát sỏi đi.

Điều tài tình nằm ở chỗ hai nhánh được đào nông sâu khác nhau. Mùa nước cạn, mực nước thấp, dòng chảy men theo lòng sâu nên hơn sáu phần mười lượng nước tự đi vào nhánh trong, đủ cho đồng ruộng uống. Mùa lũ, nước dâng cao, dòng chảy lao thẳng nên phần vào nhánh trong tụt xuống, có khi chưa tới bốn phần mười. Bao nhiêu nước dữ đổ hết ra nhánh ngoài.

Không ai phải trực. Không ai phải vặn một cái van nào. Con sông tự chia phần cho mình theo mùa, chỉ nhờ hình dáng cái lòng sông mà người xưa đã đào sẵn.

Nhưng chia nước mới xong một nửa việc. Sông từ núi xuống bao giờ cũng cõng theo cát sỏi. Rất nhiều công trình thủy lợi trên thế giới đã chết vì cát lấp đầy lòng mương rồi lấp kín cửa nước.

Nên ở đoạn dưới, Lý Băng cho đắp một bờ đá nối hai nhánh sông với nhau. Bờ này thấp một cách cố ý, thấp đến mức nước bình thường không tràn qua nổi. Người ta gọi nó là Phi Sa Yển, nghĩa là bờ đá làm cát bay.

Chỗ ấy lòng sông cong. Khi nước ở nhánh trong dâng lên nhiều quá, nó chạy tới khúc cong rồi xoáy tròn lại. Nước xoáy thì cát sỏi nặng bị hất văng ra ngoài, vượt qua cái bờ đá thấp mà rơi trở lại nhánh ngoài. Hơn chín phần mười lượng cát sỏi lọt vào nhánh trong bị tống ngược ra như thế. Cuối cùng, chưa tới tám phần trăm lượng phù sa của cả con sông đi được tới cửa dẫn nước. Ruộng nhận nước gần như trong veo.

Còn cái cửa dẫn nước ấy thì phải cắt xuyên qua một quả núi.

Chắn giữa nhánh sông trong và đồng bằng Thành Đô là núi Ngọc Lũy, một khối đá liền. Muốn nước vào ruộng thì phải mở một khe xuyên qua nó. Mà thời ấy chưa có thuốc nổ, chưa có máy khoan, chỉ có búa đá, đục sắt và sức người.

Lý Băng nghĩ ra một cách. Người ta chất củi thành đống áp sát vào vách đá rồi châm lửa. Đốt cho tới khi mặt đá nóng rực lên. Đúng lúc đá nóng nhất thì hắt nước lạnh vào. Gặp lạnh đột ngột, đá co lại, kêu răng rắc, rồi nứt ra từng mảng. Người ta đục lấy chỗ nứt ấy, dọn đá vụn đi, hôm sau lại chất củi, lại đốt, lại dội nước.

Ngày này qua ngày khác, mùa này qua mùa khác. Khói, lửa và hơi nước bốc mù mịt trên mặt sông. Tiếng đá nứt lẫn trong tiếng nước chảy. Tám năm ròng như vậy, cho tới hôm quả núi thủng một lối.

Khe nước mở ra hẹp, hai vách đá dựng đứng, trông như cổ một cái bình. Người ta đặt tên là Bảo Bình Khẩu, nghĩa là miệng bình quý.

Cái hẹp ấy cũng là cố ý. Dù bên ngoài nước có dâng cao đến đâu, lượng lọt qua cửa vào đồng bằng cũng chỉ tới một mức nhất định. Phần thừa dồn lại phía trước cửa, xoáy lên, rồi tự tràn qua bờ đá thấp Phi Sa Yển mà quay ra sông ngoài. Ba bộ phận, miệng cá chia nước, bờ đá hất cát, cửa hẹp đong nước, ăn khớp với nhau như ba bánh răng của một cỗ máy không cần một giọt nhiên liệu nào.

Dĩ nhiên cỗ máy bằng đá và nước ấy vẫn cần người chăm. Mỗi năm, tới mùa nước cạn, người trong vùng lại xuống lòng sông nạo bớt bùn cát lắng đọng và đắp lại những chỗ đá xô, gần như không ngắt quãng kể từ ngày công trình ra đời. Người trước dặn người sau một câu ngắn gọn: đào lòng sông cho sâu, đắp bờ đá cho thấp. Sâu để chứa nước, thấp để cát còn bay ra được.

Hôm nay, đồng bằng Thành Đô vẫn uống nước từ chính ba bộ phận ấy. Vẫn mũi đá hình miệng cá chẻ dòng sông làm đôi. Vẫn bờ đá thấp hất cát trở lại. Vẫn khe núi hẹp rót nước vào đồng. Vùng đất này từ lâu được gọi là đất trời cho, vì mùa nào cũng đủ nước, ruộng nào cũng được mùa. Mà cái gọi là trời cho ấy thật ra bắt đầu từ một quyết định rất người: không đánh nhau với nước.

Bên bờ sông, dưới chân núi Ngọc Lũy, người đời sau dựng một ngôi đền thờ Lý Băng, thờ cùng ông một người con trai tên Nhị Lang. Chuyện người con trai ấy là chuyện dân gian truyền miệng, không phải điều sử sách chép chắc chắn, nhưng bao đời nay người trong vùng vẫn thắp hương cho cả hai cha con.

Nghe tới đây, chắc cả nhà thấy quen quen.

Vì người Việt mình cũng làm y như vậy, chỉ khác quy mô. Con mương dẫn nước từ suối về ruộng. Cái phai chắn ngang khe để nâng mực nước lên vừa đủ rồi thả cho nước tự chảy theo mương. Những thửa ruộng bậc thang trên núi phía bắc giữ nước từng tầng, tầng trên đầy thì tự tràn xuống tầng dưới. Con đê ven sông cũng vậy: nó không bịt dòng sông, nó chỉ đứng bên cạnh mà dẫn lối cho nước đi.

Trong truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, nước dâng lên bao nhiêu thì núi cũng cao lên bấy nhiêu, hai bên cứ thế đọ sức mãi không thôi. Còn con mương, cái phai của mình và ba khối đá bên sông Mân thì cùng chọn lối khác. Không ai đọ sức với nước. Người ta mở cho nước một lối đi, rồi đứng sang bên mà nhìn nó tự chọn đường.

Hỏi cái đập của Đô Giang Yển nằm ở đâu, câu trả lời vẫn y như lúc đầu: không có cái đập nào cả. Chỉ có một mũi đá hình miệng cá nằm giữa dòng, một bờ đá thấp lúc nào cũng ướt, và một khe núi hẹp mà hơn hai nghìn hai trăm năm trước người ta đã đốt lửa suốt tám năm mới mở ra được. Nước vẫn chảy qua đó đêm nay, như đã chảy qua đó mọi đêm.

Câu chuyện gần đây