Cảnh Đức Trấn, thị trấn của những lò gốm
Trời chưa sáng. Bên khúc sông này, đêm chưa bao giờ tối hẳn được, vì dọc bờ có những cái lò còn ấm nguyên từ chiều hôm trước. Chúng hắt lên vách gạch một màu cam trầm, như than trong bếp ủ trấu.
Rồi âm thanh đầu tiên của một ngày mới cất lên. Không phải tiếng gà. Không phải tiếng chuông. Đó là tiếng một khối đất sét bị nện xuống mặt bàn gỗ. Bịch. Bịch. Bịch. Đều như nhịp tim.
Người thợ nhồi đất phải làm việc ấy trước khi trời sáng, vì đất cần dẻo và mịn đều trước lúc có ai đó chạm tay vào bàn xoay. Trong khối đất không được sót một bọt khí nào. Chỉ một bọt bằng hạt đậu thôi, gặp lửa trong lò là nó nở ra, và món đồ sẽ nứt.
Trời hửng dần. Bây giờ mới nhìn rõ thị trấn nằm nép bên sông, ở vùng Giang Tây. Người ta nung đồ gốm ở dải đất này đã hơn một nghìn bảy trăm năm rồi.
Cái tên của nó thì đến muộn hơn nhiều. Năm một nghìn lẻ bốn, vua Tống Chân Tông nhận được đồ gốm tiến cống từ thị trấn nhỏ này. Ông thích đến mức lấy chính niên hiệu đang dùng của mình, hai chữ Cảnh Đức, mà đặt cho nơi ấy. Suốt hơn một nghìn năm nay, cái tên nó đeo trên mình vẫn là một lời khen chưa ai rút lại.
Sáng ra, cửa các xưởng mở. Và đây là chỗ lạ nhất của nghề này.
Một người thợ giỏi ở đây thường không biết làm cả cái bát. Ông chỉ biết làm một phần của cái bát, nhưng làm phần ấy giỏi hơn bất kỳ ai. Người nhồi đất chỉ nhồi đất. Người vẽ nét chỉ vẽ nét, người tô màu vào trong nét chỉ tô màu, và người canh lửa thì cả đời chỉ ngồi nhìn lửa. Nhà bác học Tống Ứng Tinh sống cuối đời Minh chép lại một câu mà đến giờ người làm gốm vẫn nhắc: công sức làm ra một chiếc thôi cũng phải qua bảy mươi hai lượt tay, mới thành được cái đồ.
Bảy mươi hai lượt tay cho một cái chén uống trà.
Đến đầu đời Minh, vị vua khai quốc cho dựng ngay giữa thị trấn một xưởng riêng, người ta quen gọi là lò ngự. Xưởng ấy không làm đồ cho ai khác ngoài hoàng gia. Và rồi tới năm một nghìn bốn trăm ba mươi ba, đời vua Tuyên Đức, từ trong cung có một cái lệnh gửi xuống.
Chỉ một lệnh thôi. Bốn trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm chiếc. Tất cả đều phải vẽ rồng và phượng.
Con số ấy khó hình dung nổi, nên thử tính một lần cho dễ. Giả sử chỉ một người vẽ, mỗi ngày xong đúng một chiếc, không nghỉ ngày nào, không ốm, không Tết. Người ấy sẽ phải ngồi vẽ hơn một nghìn hai trăm năm mới hết cái lệnh đó.
Cho nên không thể là một người, cũng không thể là một trăm người. Vào thời thịnh nhất, người ta ước chừng cả thị trấn có tới mấy nghìn cái lò cùng đỏ lửa một lúc.
Nhưng điều khó nhất không nằm ở chỗ đông. Điều khó nhất là tất cả những bàn tay ấy phải vẽ giống nhau. Cùng một độ cong của thân rồng. Cùng một cách hất lên ở đuôi phượng. Người thợ ngồi đầu phố và người thợ ngồi cuối phố, có thể cả đời chưa nói với nhau câu nào, vậy mà khi hạ bút xuống thì nét của họ phải là một.
Món nào ra lò mà chưa đạt thì không được rời khỏi xưởng. Người ta loại nó ra rồi cho xuống đất ngay tại chỗ, lặp đi lặp lại hàng mấy trăm năm. Đất chỗ ấy cứ dày lên, thành hẳn một quả đồi nhỏ giữa lòng thị trấn, tên là Châu Sơn. Một quả đồi làm bằng những món đồ chưa vừa ý.
Buổi chiều, nắng xiên qua cửa xưởng. Và không phải món nào rời khỏi nơi này cũng chịu ở lại vô danh.
Trước cái lệnh kia tám mươi hai năm, vào năm một nghìn ba trăm năm mươi mốt, có một người đàn ông tên Trương Văn Tiến đặt làm ở đây một bộ đồ thờ gồm một chiếc lư hương và một đôi bình hoa. Ông cho ghi thẳng lên cổ bình tên mình, quê mình, và điều ông mong: cho cả nhà được bình an, cho con cái được yên ổn. Rồi ông đem bộ đồ ấy dâng vào một ngôi đền.
Đôi bình cao hơn sáu mươi ba phân, hai bên cổ đắp quai hình đầu voi, trên thân là một con rồng bốn móng đang lượn giữa mây.
Hơn sáu trăm năm sau, đôi bình ấy đang đứng trong một tủ kính ở Luân Đôn. Dòng chữ Trương Văn Tiến cho ghi ngày ấy hóa ra là lời đề tặng có ghi năm tháng sớm nhất mà người ta biết trên đồ gốm hoa lam. Nhờ mấy hàng chữ của một người cha lo cho con mình mà cả thế giới biết chắc nghề vẽ men lam ở Cảnh Đức Trấn đã đạt tới mức ấy từ năm một nghìn ba trăm năm mươi mốt.
Còn chiếc lư hương đi cùng bộ thì đến nay vẫn chưa ai tìm ra.
Đồ gốm ở đây đi xa hơn người làm ra chúng rất nhiều. Ở những bến cảng cổ tận Ai Cập và Kenya, người ta đã nhặt được mảnh gốm của chính thị trấn này. Trà thì uống hết. Lụa thì mục đi. Còn đất đã qua lửa thì ở lại, kể cả khi đã vỡ.
Chiều tắt dần bên sông. Khói trên các mái lò nhạt đi nhưng không dứt hẳn, vì lửa được ủ lại qua đêm. Vài giờ nữa, khi trời còn chưa sáng, lại sẽ có người bước ra, đặt một khối đất lên mặt bàn gỗ, và nện xuống.
Nhưng đúng trong quãng thời gian ấy, ở một vùng châu thổ khác, cũng có những cái lò đang đỏ.
Bên sông Hồng, thợ gốm Việt Nam cũng đang chấm men lam lên nền đất trắng. Làng Chu Đậu ở châu Nam Sách đang thổi lửa. Làng Bát Tràng bên tả ngạn sông Hồng, cái tên mà cả nhà đã quen, cũng đang thổi lửa. Đó là hai dòng chảy riêng, chảy song song trong cùng một trăm năm, không dòng nào là bóng của dòng nào.
Năm một nghìn bốn trăm năm mươi, chỉ mười bảy năm sau cái lệnh kia, ở châu Nam Sách có một chiếc bình hoa lam ra lò. Bình cao năm mươi bốn phân. Trên vai bình có mười ba chữ Hán, ghi rõ năm làm, nơi làm, và cả tên người cầm bút vẽ nó. Người đời vẫn truyền lại tên ấy là Bùi Thị Hý, một người thợ nữ. Thân thế của bà thì các nhà nghiên cứu đến giờ vẫn còn ngồi bàn với nhau. Nhưng mười ba chữ kia thì vẫn nằm nguyên đó, không nhòe đi một chữ nào.
Chiếc bình ấy bây giờ đứng trong tủ kính của Bảo tàng Topkapi, ở thành phố Istanbul.
Hai đầu của một thế giới rất rộng, hai tủ kính cách nhau mấy nghìn cây số. Một bên là đôi bình mang lời cầu bình an của một người cha. Một bên là chiếc bình mang tên bàn tay đã vẽ nó. Cùng làm bằng đất trắng, cùng một sắc xanh, cùng đi qua lửa trong cùng một trăm năm ấy. Và trên vai chiếc bình đứng ở Istanbul, dưới ánh đèn tủ kính, mười ba chữ nhỏ vẫn đang nói đúng cái điều chúng được viết ra để nói: đây là năm ấy, và đây là bàn tay này.