Ruộng bậc thang Nguyên Dương của người Hà Nhì
Một khúc gỗ, dài chừng một sải tay, nằm ngang ngay chỗ con mương chia làm hai nhánh.
Nó không có bản lề, không có nắp, không có khóa. Trên lưng khúc gỗ, người ta đục sẵn mấy cái khe. Khe này rộng bằng ba ngón tay, khe bên cạnh chỉ rộng bằng một ngón, khe kia nữa còn hẹp hơn. Nước từ trên núi chảy tới, dâng lên chạm mép gỗ rồi tràn qua từng cái khe mà đổ xuống các nhánh phía dưới. Khe rộng đón nhiều nước, khe hẹp đón ít. Không ai vặn, không ai đứng canh.
Người Hà Nhì gọi vật ấy là gỗ chia nước. Chỗ nào kiếm được phiến đá tốt thì họ khoét khe lên đá, gọi là đá chia nước. Chỉ có thế thôi. Một khúc gỗ có mấy cái khe, đặt đúng chỗ dòng nước rẽ.
Vậy mà khúc gỗ ấy là bộ não của cả một sườn núi.
Sườn núi ấy nằm ở vùng Hồng Hà, phía đông nam tỉnh Vân Nam. Ruộng trải qua bốn huyện là Hồng Hà, Nguyên Dương, Lục Xuân và Kim Bình, rộng khoảng bảy mươi nghìn héc ta, hàng nghìn bậc xếp chồng từ lưng chừng núi xuống tận đáy thung lũng. Người Hà Nhì đã làm ruộng ở đó hơn một nghìn ba trăm năm.
Một dòng suối, hàng trăm gia đình, và một mùa khô. Đó là bài toán khó nhất của mọi vùng ruộng bậc thang trên đời. Nhà ở đầu mương chỉ cần đắp bờ cao thêm một chút thôi là nhà cuối mương phải nhìn ruộng mình nứt nẻ. Người Hà Nhì giải bài toán ấy bằng một khúc gỗ.
Bề rộng mỗi cái khe không phải ai thích thì đục. Nhánh nào nuôi nhiều ruộng hơn thì được khe rộng hơn, nhánh ít ruộng thì khe hẹp lại, theo đúng thứ tự lấy nước mà cả vùng đã theo từ đời này sang đời khác. Chia nước vì thế không nằm trong lời hứa của ai. Nó nằm trong hình dạng khúc gỗ, ai đi ngang cũng nhìn thấy.
Người trông coi việc ấy được gọi là trưởng mương. Việc đầu tiên của ông không phải chia nước mà là nạo mương. Bùn lắng, lá rụng, đất lở, để ít lâu là mương tắc, mà mương tắc thì cái khe rộng nhất cũng vô dụng. Ông đi dọc mương, vét cho thông, rồi mới trông chừng dòng chảy. Khi hai nhà có chuyện với nhau vì nước, ông là người đứng ra phân xử.
Ông không phải quan trên cử xuống. Ông là người hàng xóm, và những người hàng xóm trả công cho ông bằng thóc: nhà nào có ruộng ăn nước con mương ấy thì nộp một thùng, chừng ba ki lô gam. Ở đây, công bằng không phải một lời khuyên hay ho. Nó là một cái khe đục sẵn, một con mương vét sạch, và một thùng thóc trả đúng hẹn.
Nhưng khúc gỗ chỉ chia được thứ mà nó có. Nếu con mương phía trên cạn khô thì mọi cái khe, rộng hay hẹp, cũng như nhau cả. Câu hỏi thật sự là nước ở đâu ra.
Câu trả lời làm nhiều người sửng sốt. Ở vùng ruộng bậc thang này không có lấy một cái hồ chứa nào. Không đập, không bể, không kho nước. Vậy mà nước thì quanh năm không thiếu.
Bí mật nằm ở chỗ người Hà Nhì không chỉ xếp những thửa ruộng. Họ xếp cả ngọn núi, thành bốn tầng, không tầng nào được đổi chỗ cho tầng nào. Trên cùng là rừng. Dưới rừng một quãng là làng. Dưới làng là ruộng bậc thang, tầng nọ nối tầng kia đi xuống mãi. Và dưới cùng, ở đáy thung lũng, là dòng sông.
Nước chảy xuyên qua đủ bốn tầng ấy theo đúng thứ tự. Từ rừng, nước theo mương về làng, người và trâu bò dùng trước. Qua làng rồi nước mới xuống ruộng, đi từ bậc cao nhất xuống bậc thấp nhất. Hết ruộng thì nước ra sông. Rồi nắng lên, hơi nước bốc khỏi lòng thung, gió mùa đẩy ngược lên đỉnh núi, gặp tán rừng dày thì đọng thành sương và thấm xuống đất. Và mọi thứ bắt đầu lại.
Cả ngọn núi là một cái máy bơm chạy bằng nắng và bằng lá cây. Rừng chính là hồ chứa, chỉ có điều nó không đựng nước trong một cái bể mà giữ nước trong đất, trong rễ, trong sương.
Hiểu ra điều đó rồi thì giữ rừng ở đây không còn là một lời kêu gọi tử tế nữa. Nó là phép tính. Chặt trụi vạt rừng trên đỉnh thì con mương phía dưới hết nước, và khúc gỗ chia nước chẳng còn gì để chia. Thế nên mỗi làng đều để lại một vạt rừng đầu nguồn và một vạt rừng thiêng không ai được đụng tới. Bên cạnh trưởng mương, làng còn cắt cử người coi rừng. Hai người ấy đang giữ chung một thứ.
Vì nước ở lại gần như quanh năm, ruộng bậc thang ở đây không chỉ là chỗ trồng lúa. Trong làn nước nông ấy có cá, có ốc, có lươn. Người ta thả thêm vịt và trồng đậu tương ngay trên bờ ruộng. Vùng này từng có tới một trăm chín mươi lăm giống lúa của riêng mình, nay còn bốn mươi tám, và các làng vẫn đổi giống cho nhau để không giống nào mất hẳn.
Cách làm ruộng này không mới. Từ thời nhà Đường, người Hà Nhì đã nổi tiếng về tài mở ruộng trên sườn dốc. Ngày nay tám mươi hai ngôi làng vẫn nằm đúng chỗ của mình, giữa vạt rừng trên đỉnh và bậc ruộng phía dưới, mái cỏ tranh úp tròn như những cây nấm.
Năm hai nghìn không trăm mười, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc xếp vùng ruộng này vào danh sách những hệ thống nông nghiệp quan trọng của thế giới. Ba năm sau, một vùng lõi rộng mười sáu nghìn sáu trăm lẻ ba héc ta được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới.
Còn bây giờ là đoạn gần nhà. Dòng sông ở đáy thung lũng kia, nơi nước chảy về sau khi đã đi hết mấy nghìn bậc ruộng, tên là Hồng Hà. Chảy thêm một quãng về phía đông nam, nó vào đất Việt Nam ở Lào Cai. Từ đó, cả nhà gọi nó bằng cái tên quen thuộc hơn nhiều, là sông Hồng. Chính con sông chảy qua Hà Nội.
Người Hà Nhì cũng vậy, không chỉ ở bên kia núi. Hà Nhì là một trong năm mươi tư dân tộc của Việt Nam, và theo số liệu năm hai nghìn không trăm mười chín, nước mình có hơn hai mươi lăm nghìn người Hà Nhì. Họ sống nhiều nhất ở Điện Biên, Lai Châu và Lào Cai, dựng nhà trình tường bằng đất nện. Và họ cũng làm ruộng bậc thang. Cùng một dân tộc, sống ở hai bên một vùng núi, cả hai bên đều biết xếp sườn dốc thành bậc để giữ nước.
Ruộng bậc thang thì cả nhà mình quen quá rồi. Mù Cang Chải, Hoàng Su Phì, những sườn núi vàng rực vào cuối mùa. Chúng do nhiều dân tộc khác nhau làm ra, ở những vùng núi khác nhau, nhưng bài toán thì vẫn là bài toán ấy. Tìm nguồn nước trên cao, đào mương dẫn về, san sườn dốc thành bậc, đắp bờ giữ nước, rồi chia phần cho từng nhà sao cho nhà cuối mương cũng đủ nước cấy.
Khúc gỗ vẫn nằm nguyên chỗ nó vẫn nằm, ngang qua nơi con mương rẽ đôi. Nước tới, dâng lên, chạm mép gỗ, rồi tràn qua từng cái khe mà tỏa đi mỗi hướng một phần. Không tiếng cãi vã, không ai phải đứng gác. Chỉ có tiếng nước, và mấy cái khe rộng hẹp đủ sức giữ cho cả một sườn núi sống chung với nhau suốt hơn một nghìn ba trăm năm.