Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Tử Cấm Thành và con đường băng chở đá

0:000:00

Một phiến đá nằm ngay chỗ nó vừa được tách ra khỏi núi.

Phiến đá ấy dài chín mét sáu, rộng ba mét hai, dày một mét sáu, và nặng khoảng một trăm hai mươi ba tấn. Chỗ nó nằm là mỏ đá Đại Thạch Oa, vùng Phòng Sơn. Nó phải đi bảy mươi cây số nữa mới tới nơi cần đến, là Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, nơi lúc ấy đang có một đợt tu sửa lớn.

Bài toán chỉ có bấy nhiêu. Và nó khó đến mức đáng dừng lại nghĩ thật lâu, trước khi biết lời giải.

Đặt nó lên xe thì sao? Xe bánh gỗ thời ấy chở nổi nhiều lắm là chín mươi lăm tấn. Phiến đá này nặng hơn thế nhiều. Bánh sẽ vỡ, trục sẽ gãy. Một khối đá trăm tấn đổ nghiêng xuống đường thì nguy cho người, nguy cho súc vật, mà nguy nhất là nguy cho chính nó. Phiến đá là một khối liền. Nứt một đường là hỏng cả khối, và không ai gắn lại được.

Vậy thì kéo lê thẳng trên mặt đất. Nghe chắc ăn hơn, nhưng con số lại đáng sợ. Để lôi một trăm hai mươi ba tấn đá trượt trên nền đất trần, phải cần hơn một nghìn năm trăm người kéo cùng lúc. Mà một nghìn năm trăm người thì xếp vào đâu cho vừa quanh một phiến đá dài chín mét sáu? Dây thừng phải dài hàng trăm mét. Người đầu dây và người cuối dây chẳng nhìn thấy nhau, không thể ghì cùng một nhịp. Bảy mươi cây số như thế thì đi đến bao giờ.

Cái giữ phiến đá lại không phải là sức nặng của nó. Là ma sát.

Ma sát là thứ ai cũng đã gặp mà ít khi gọi tên. Kéo một thùng gạo trên nền xi măng nhám thì nặng trĩu tay. Vẫn thùng gạo ấy, vẫn sức ấy, mà đẩy trên mặt sàn trơn thì nhẹ hẳn đi. Thùng gạo không nhẹ đi. Chỉ có mặt đường là đã khác.

Thế là câu hỏi đổi hẳn hình dạng. Không còn là tìm đâu cho ra đủ người. Mà là làm sao biến bảy mươi cây số đường đất thành một mặt đường trơn.

Lời giải bắt đầu bằng việc đợi.

Người ta không đi vào mùa xuân, cũng không đi vào mùa thu. Họ đợi tới giữa mùa đông, khi trời phương bắc đã lạnh đủ sâu. Chuyến đi ấy diễn ra vào mùa đông năm một nghìn năm trăm năm mươi bảy, và trời hôm ấy lạnh chừng âm ba phẩy bảy độ.

Nhưng đợi mùa đông thôi thì chưa đủ. Mùa đông cho họ cái lạnh, chứ chưa cho họ con đường.

Nên họ tự làm ra con đường. Dọc suốt bảy mươi cây số, cứ khoảng nửa cây số người ta lại đào một cái giếng. Múc nước lên, dội ra mặt đường. Nước gặp cái lạnh thì đọng lại, phẳng ra, cứng lại. Từng đoạn một, từng ngày một, con đường đất biến thành một dải băng chạy dài về phía kinh thành. Họ không đi tìm một con đường trơn. Họ làm ra nó.

Đến đây thì phiến đá đã dễ thở hơn nhiều. Nhưng vẫn chưa đủ trơn.

Vì băng, dù nhẵn đến đâu, vẫn là một mặt cứng. Gỗ khô miết lên băng khô vẫn còn bám lại. Trên mặt băng trần, muốn kéo phiến đá ấy đi vẫn phải cần chừng ba trăm ba mươi tám người.

Và đây mới là chỗ hay nhất của cả câu chuyện.

Người ta múc nước lên thêm một lần nữa, rồi dội một lớp thật mỏng lên chính mặt băng vừa đóng. Chỉ một lớp nước mỏng thôi, mỏng đến mức nhìn qua chỉ tưởng mặt băng hơi ướt.

Vậy mà lớp nước ấy thay đổi tất cả. Đáy chiếc xe trượt bằng gỗ bây giờ không còn chạm vào băng nữa. Nó nằm trên nước. Nó trượt trên nước.

Ai từng đi chân trần trên nền gạch men vừa lau xong đều biết ngay cảm giác đó. Sàn khô thì bước bình thường. Sàn còn đọng một lớp nước mỏng thì hụt chân ngay. Nước trơn hơn gạch, và nước cũng trơn hơn băng. Những người thợ ngày ấy không cần đọc một trang sách vật lý nào. Họ chỉ cần biết đúng một điều mà bàn chân nào cũng đã học được: ướt thì trơn hơn khô.

Với lớp nước mỏng ấy, phiến đá một trăm hai mươi ba tấn cần bao nhiêu người kéo?

Khoảng bốn mươi sáu người. Bốn mươi sáu thôi. Chỉ nhỉnh hơn sĩ số một lớp học một chút.

Cái lạnh âm ba phẩy bảy độ hóa ra cũng vừa khéo. Đủ lạnh để giữ cho mặt băng bên dưới cứng như đá, mà chưa đủ lạnh để lớp nước mới dội lên đóng lại ngay lập tức. Người thợ có một khoảng thời gian ngắn, và họ dùng đúng khoảng ấy để kéo.

Đoàn người đi rất chậm. Mỗi giây phiến đá nhích được chừng tám xăng ti mét, ngắn hơn một gang tay người lớn. Phía trước là những người gánh nước từ giếng ra, dội xuống, rồi lùi lại nhường đường. Phía sau lưng, mặt băng đã cứng đờ trở lại, chẳng để lại dấu gì ngoài một vệt sáng bóng kéo dài.

Cứ như thế, ngày này qua ngày khác. Dội nước, chờ, rồi kéo. Hết hai mươi tám ngày thì phiến đá tới nơi.

Chuyện này lẽ ra đã bị quên đi. Nhưng sáu mươi mốt năm sau, có người chép nó lại vào một cuốn sách, kể phiến đá ấy đã đi thế nào. Nhờ mấy trang giấy đó mà tới hôm nay chúng ta vẫn tính lại được từng bước chân của họ.

Mà phiến đá một trăm hai mươi ba tấn ấy còn chưa phải phiến lớn nhất.

Trong Tử Cấm Thành có một phiến đá chạm khắc nằm sau điện Bảo Hòa, lớn nhất trong cả tòa cung điện, mặt đá phủ kín hoa văn. Khi được đưa về, nó nặng hơn ba trăm tấn. Nghĩa là hơn gấp đôi. Và nó cũng đã trôi tới đó, chậm rãi, trên một con đường mùa đông làm bằng nước.

Cái tên Tử Cấm Thành chắc cả nhà nghe quen tai lắm rồi. Huế của mình cũng có một Tử Cấm Thành, nằm trong khu Đại Nội. Hai nơi cách nhau rất xa, hai câu chuyện khác hẳn nhau, chỉ có cái tên là đã thân thuộc từ lâu.

Và cái lối nghĩ kia thì còn quen hơn nữa. Muốn dời một tảng đá hay một cây cột lớn, người ta kê mấy khúc gỗ tròn xuống dưới cho nó lăn. Cánh cửa kêu ken két thì tra vào bản lề một giọt dầu. Cùng một ý cả thôi. Đừng cố khỏe hơn. Hãy làm cho chỗ tiếp xúc trơn hơn.

Lần tới, khi trong nhà vừa lau sàn xong, cả nhà thử nhìn lớp nước còn đọng lại thêm một giây. Nó mỏng đến mức gần như không có gì. Vậy mà gần năm trăm năm trước, ở một xứ mùa đông xa xôi, chính một lớp nước mỏng như thế đã cõng một trăm hai mươi ba tấn đá đi trọn bảy mươi cây số.

Câu chuyện gần đây