Lạc Sơn Đại Phật bên ngã ba sông
Một nhà sư đi bộ từ làng này sang làng khác, hai tay ôm một cái bát.
Ông không xin cơm. Ông xin tiền. Có nhà thả vào bát ông mấy đồng lẻ. Có nhà thả nhiều hơn. Có nhà chỉ đứng ở cửa nhìn ông một lúc rồi lắc đầu. Ông cảm ơn tất cả như nhau, rồi lại xuống đường, đi tiếp sang làng sau. Chuyện ấy không kéo dài vài tháng. Nó kéo dài nhiều năm ròng.
Và đây mới là chỗ lạ. Cái việc mà ông đang gom từng đồng một để làm, thì gần như chắc chắn không một ai trong số những người bỏ tiền vào bát ông còn sống để nhìn thấy nó xong. Kể cả chính ông.
Vậy ông gom tiền để làm gì?
Ở vùng Lạc Sơn thuộc đất Tứ Xuyên có một chỗ mà ba con sông cùng dồn về một điểm. Sông Mân chảy xuống, sông Đại Độ và sông Thanh Y đổ tới, ba dòng nước gặp nhau ngay dưới chân một vách núi đá đỏ. Ba dòng ấy không nhập vào nhau êm ả. Chúng va nhau, cuộn lại, xoáy tròn, hất tung nước lên rồi kéo tuột xuống. Thuyền bè đi ngang khúc đó phải liều. Có chuyến qua được. Có chuyến thì không.
Nhà sư ấy tên là Hải Thông. Ông sống ngay cạnh khúc sông đó, và ông đã nhìn cảnh ấy đủ nhiều lần để nghĩ ra một việc mà nghe qua thì không ai tin nổi.
Ông muốn tạc một pho tượng Phật Di Lặc vào chính vách núi nhìn xuống ngã ba sông. Không phải một pho tượng đặt trên bệ để trong chùa. Ông muốn đục thẳng vào ngọn núi, lấy đá đi cho tới khi hình một vị Phật ngồi hiện ra trong đó. Ông muốn pho tượng ấy cao bảy mươi mốt mét.
Cả nhà hình dung một tòa nhà hai mươi mấy tầng, rồi hình dung nó không phải được xây lên, mà được gọt ra từ một quả núi có sẵn. Đó là thứ mà một người đàn ông đang đi xin tiền từng đồng một trong cái bát.
Người đời sau còn kể lại rằng ông nhất định không cho ai đụng vào số tiền đã dành cho pho tượng, dù người đòi là ai đi nữa. Chuyện ấy truyền miệng qua bao nhiêu đời, nên nghe thì cứ nghe vậy. Nhưng có một điều thì chắc chắn, vì nó nằm trong đá: năm bảy trăm mười ba, những nhát đục đầu tiên bổ xuống vách núi.
Người thợ treo mình bên sườn núi, đục từ trên xuống. Đá vỡ ra từng mảng, trôi xuống dốc, rơi ùm xuống sông. Trước tiên là đỉnh đầu. Rồi trán, rồi mắt, rồi mũi, rồi miệng. Rồi tới vai.
Hải Thông mất khi công trình mới tới đó.
Nghĩa là ông đã kịp thấy một khuôn mặt lớn hiện ra giữa vách đá, và bên dưới khuôn mặt ấy thì vẫn chỉ là núi. Chưa có tay. Chưa có chân. Chưa có gì cả.
Học trò của ông làm tiếp. Một vị quan lớn trong vùng bỏ tiền ra giúp, công việc chạy được thêm một quãng dài, tạc xuống tới đầu gối thì tiền hết và người cũng tản đi. Pho tượng nằm đó, dở dang, mưa nắng đi qua như đi qua một vách núi bình thường. Phải tới khoảng bảy mươi năm sau, một vị quan trấn thủ tên Vi Cao mới cho gọi thợ về làm nốt. Năm tám trăm lẻ ba, pho tượng hoàn thành. Từ nhát đục đầu tiên tới nhát đục cuối cùng là gần một thế kỷ, đủ dài cho một đứa trẻ sinh ra, lớn lên, già đi và mất, mà công trình vẫn chưa xong.
Thứ hiện ra sau ngần ấy thời gian là một vị Phật ngồi, hai tay đặt lên đầu gối, hai bàn chân đặt xuống ngay mép nước. Đầu tượng cao mười bốn phẩy bảy mét và rộng mười mét. Hai vành tai dài bảy mét. Một ngón tay dài tám phẩy ba mét, gần bằng hai chiếc ô tô nối đuôi nhau. Mu bàn chân rộng tám phẩy năm mét, rộng tới mức chừng một trăm người có thể cùng ngồi lên đó.
Nhưng chi tiết hay nhất của pho tượng lại là chi tiết mà đứng dưới sông nhìn lên sẽ không thấy.
Tóc của tượng là những búi xoắn ốc, hơn một nghìn búi, mỗi búi ghép bằng đá rời chứ không đắp liền một khối, gắn khít vào đầu tượng như thể mọc lên từ đá. Giấu trong đám tóc ấy là những đường rãnh. Rãnh chạy tiếp xuống cổ áo, luồn ra sau lưng, đi qua ngực, rồi thoát ra ở phía sau hai vành tai, nơi có cả một khoảng hang nối thông bên trong. Mưa Tứ Xuyên rơi xuống đầu tượng sẽ theo những đường rãnh đó mà đi, chảy vòng ra sau, rồi trút xuống núi, thay vì đọng lại ăn dần vào đá.
Người ta làm cái hệ thoát nước ấy cách đây hơn một nghìn hai trăm năm. Nó vẫn đang chạy.
Còn chuyện dòng sông thì kết thúc theo một cách mà chính Hải Thông cũng không tính tới.
Suốt gần một thế kỷ ấy, hàng núi đá đục ra khỏi vách phải đi đâu đó. Chúng đi xuống sông. Ngày này qua ngày khác, mảng đá lớn nhỏ cứ lăn xuống, chất dần dưới lòng nước ngay tại khúc xoáy. Lòng sông nông lên, hình dáng đáy sông đổi khác, và dòng chảy buộc phải đổi theo. Những vòng nước cuộn hung hãn ngày trước dịu bớt đi. Thuyền qua khúc ấy dễ hơn thật.
Ông định làm dịu dòng nước bằng một pho tượng. Cuối cùng dòng nước dịu lại vì đống đá vụn mà pho tượng bỏ lại.
Ngày xưa người ta còn dựng hẳn một nhà gỗ mười ba tầng trùm ra ngoài, che mưa nắng cho pho tượng. Mái nhà ấy giờ không còn nữa. Tượng ngồi ngoài trời, dầm mưa dãi nắng bao nhiêu đời, mà vẫn nguyên vẹn nhờ mấy đường rãnh giấu trong tóc. Đến năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, cả vùng núi này được ghi vào danh sách di sản thế giới.
Nhà mình ở Việt Nam thật ra rất quen cảm giác đứng dưới một pho tượng lớn. Trên bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng, tượng Quan Thế Âm chùa Linh Ứng Bãi Bụt cao sáu mươi bảy mét, tức là chỉ thấp hơn pho tượng bên ngã ba sông kia có mấy mét thôi. Hai pho tượng gần bằng nhau, nhưng làm ngược nhau hoàn toàn. Một pho được dựng lên, từng lớp vật liệu chồng dần từ dưới lên trên. Pho kia được lấy đi, từng mảng đá bóc dần ra khỏi một quả núi cho tới khi thứ còn lại chính là bức tượng.
Bây giờ mỗi ngày vẫn có thuyền chạy qua chỗ ba con sông gặp nhau ở Lạc Sơn. Chúng đi ngang hai bàn chân đá to bằng cả một cái sân, lướt trên khúc nước đã hiền đi vì chính những mảnh đá rơi xuống từ trên kia. Và không một ai trên những chiếc thuyền ấy từng gặp người đàn ông ôm cái bát, đi bộ từ làng này sang làng khác, xin từng đồng cho một việc mà một đời người không đủ dài để làm cho xong.