Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Vạn Lý Trường Thành và nồi cháo nếp

0:000:00

Trong một cái nồi to bằng cả cái bàn ăn, gạo nếp đang sôi.

Mùi bay lên trước tiên. Ai từng đứng trong bếp nhà mình đêm cuối năm, canh nồi bánh chưng, thì nhận ra ngay cái mùi ấy. Nó ngọt, ấm, hơi ngai ngái mùi hạt gạo vừa chín tới. Nó bám vào áo, vào tóc, rồi ở lại đó suốt buổi. Hơi nước đùn lên từng đợt, làm mờ cả mặt người đứng gần.

Rồi mới tới tiếng. Một cái mái chèo bằng gỗ khuấy vòng quanh đáy nồi, cạo lên thành nồi những tiếng sồn sột đều đặn. Cháo nếp càng nấu lâu càng đặc, càng đặc thì càng nặng tay, nên người khuấy chốc chốc lại phải đổi vai. Bên dưới, lửa reo. Bên trên, khói.

Đó là một gian bếp. Nhưng nồi cháo này sẽ không có ai ăn.

Ngay cạnh nồi có một cái hố. Trong hố là vôi tôi, trắng đục, sền sệt, còn âm ấm hơi nóng của đá vôi vừa gặp nước. Người ta múc từng gáo cháo nếp nóng hổi đổ vào hố vôi ấy, rồi trộn. Trộn cho tới khi hai thứ quyện hẳn thành một khối dẻo màu trắng ngà.

Thứ vừa ra đời không phải món ăn. Đó là vữa.

Ở Trung Hoa xưa, người ta đã trộn cháo gạo nếp với vôi như vậy từ ít nhất một nghìn năm trăm năm trước. Vữa nếp dùng để gắn gạch với gạch, đá với đá. Nó dựng mộ, dựng tháp, dựng tường thành. Tường thành Nam Kinh, đứng đó đã khoảng sáu trăm năm, chính là dính vào nhau bằng thứ cháo ấy. Và những đoạn tường gạch thời nhà Minh của Vạn Lý Trường Thành cũng vậy.

Nghe thì buồn cười thật. Nấu cháo để xây tường. Nhưng người xưa không hề đùa, và mấy trăm năm sau, khi các nhà hóa học soi thử một mẩu vữa cũ dưới kính hiển vi, họ mới hiểu vì sao cách ấy hiệu nghiệm đến thế.

Chuyện nằm ở chỗ này. Vôi khi khô lại sẽ tự kết thành những hạt tinh thể tí hon, tên gọi là canxi cacbonat. Nếu để vôi khô một mình, các hạt tinh thể ấy tha hồ lớn lên. Chúng lớn thành từng cục to, nằm cạnh nhau lỏng lẻo, giữa cục nọ với cục kia còn chừa bao nhiêu là khe hở. Nước mưa cứ theo khe hở đó mà len vào, và bức tường bắt đầu bong ra từng mảng.

Trong hạt gạo nếp lại có một chất bột rất đặc biệt, tên là amylopectin. Chính nó làm cho hạt nếp dẻo và dính hơn hẳn hạt gạo tẻ. Khi cháo nếp hòa vào vôi, những sợi bột ấy len vào giữa các tinh thể đang thành hình, và giữ không cho chúng lớn lên.

Thế là tinh thể đành chịu ở nhỏ. Mà nhỏ thì xếp được khít. Cả nhà cứ thử đổ một nắm sỏi vào một cái lọ, rồi đổ một nắm cát vào cái lọ bên cạnh, sẽ thấy ngay điều đó. Cát lấp kín từng chỗ trống, còn sỏi thì nhìn đâu cũng thấy hở.

Vữa nếp khô lại thành một khối đặc y như vậy. Nó bám chắc hơn, chịu lực khỏe hơn, và nước rất khó ngấm qua. Có một ngôi mộ thời Minh mà lớp vữa nếp cứng tới mức máy ủi hiện đại húc vào cũng phải chịu thua. Nhiều công trình gắn bằng vữa nếp đã đi qua cả những trận động đất mà vẫn đứng nguyên.

Người ta gọi đó là loại vữa hỗn hợp đầu tiên của thế giới. Bởi trong một mẻ vữa ấy có cả một thứ lấy từ ruộng lúa và một thứ lấy từ lò nung đá.

Bây giờ tới một câu hỏi khó hơn. Dán một tuyến tường dài như thế thì cần bao nhiêu nồi cháo cho đủ? Muốn biết, trước hết phải đo xem tuyến ấy dài bao nhiêu đã. Và chính lúc đi đo, người ta gặp một bất ngờ.

Đo Vạn Lý Trường Thành không phải chuyện một người cầm thước dây. Suốt mấy năm liền, từng nhóm khảo sát mang máy định vị vệ tinh trèo lên sườn núi, lội qua khe, đi bộ dọc theo tuyến tường, chấm từng điểm một rồi ghép lại thành bản đồ.

Riêng tuyến do nhà Minh dựng lên, con số cuối cùng là tám nghìn tám trăm năm mươi mốt phẩy tám cây số. Đo kỹ tới mức ghi cả phần lẻ sau dấu phẩy.

Nhưng con số hay nhất không phải con số tổng.

Trong tám nghìn tám trăm năm mươi mốt phẩy tám cây số đó, phần tường thật sự do người xây bằng gạch, bằng đá, bằng đất nện chỉ có sáu nghìn hai trăm năm mươi chín phẩy sáu cây số. Thêm ba trăm năm mươi chín phẩy bảy cây số nữa là hào, tức là những rãnh dài người ta đào xuống chứ không đắp lên.

Vậy hơn hai nghìn hai trăm cây số còn lại là gì?

Là núi. Là sông. Là vách đá dựng đứng.

Đúng hai nghìn hai trăm ba mươi hai phẩy năm cây số của tuyến ấy không có một viên gạch nào. Người xưa đi tới chân một vách đá cao vút, ngẩng lên nhìn, rồi ghi vào sổ rằng đoạn này coi như xong. Tới bờ một con sông rộng, họ cũng làm y hệt.

Nghĩa là bức tường dài nhất thế giới không phải một bức tường liền mạch. Nó là một tuyến dài, mà cứ đi một quãng lại có một khúc được để nguyên cho núi và cho sông.

Để ý mà xem, đó cũng chính là điều họ đã làm trong gian bếp. Không ai đi phát minh ra một chất kết dính lạ lùng nào cả. Người ta nhìn quanh, thấy nồi cháo nếp mình vẫn nấu ăn hằng ngày, rồi nghĩ ra rằng cái dẻo ấy dùng được. Ngoài trời cũng thế, thấy quả núi đã đứng sẵn thì cứ để quả núi đứng nguyên đó.

Trong bếp hay ngoài đồng, quy tắc chỉ có một: cái gì sẵn có thì đem ra dùng.

Ở Việt Nam mình, gạo nếp cũng làm đúng cái việc gắn kết ấy, chỉ là gắn theo kiểu khác. Nếp giữ cho chiếc bánh chưng vuông vắn, cắt ra miếng nào cũng đứng thành khối. Nếp làm nắm xôi dính vào nhau vừa đủ để cầm trên tay. Ngày trước các cụ còn nấu bột gạo thành hồ để dán giấy, dán quạt, dán đèn ông sao.

Và những người thợ dựng đình, dựng chùa ngày xưa ở mình cũng có bí quyết riêng của họ. Họ trộn vôi với mật mía, có khi thêm giấy bản, thêm keo nấu từ da trâu. Chất ngọt trong mật mía gặp vôi thì sinh ra những tinh thể rất bền, khiến mẻ vữa vừa dẻo lúc trát lại vừa chắc lúc khô. Vữa vôi mật ấy đã giữ những mảng đắp hoa văn trên mái đình mái chùa qua bao nhiêu mùa mưa. Đến bây giờ, thợ trùng tu ở Huế vẫn nấu lại đúng công thức cũ ấy để vá lại những mảng vữa đã bong trên di tích Cố đô.

Hai gian bếp cách nhau rất xa. Một bên nấu cháo nếp, một bên nấu mật mía. Không bên nào chép của bên nào. Chỉ là hai nơi cùng cúi xuống nhìn cái nồi nhà mình, rồi cùng nghĩ ra một điều giống nhau. Muốn cho đá gắn được vào đá, phải mượn một chút ngọt của cây lúa, của cây mía.

Cho nên đêm cuối năm sắp tới, khi cả nhà ngồi canh nồi bánh chưng, khói bay lên và mùi nếp chín tỏa đầy gian bếp, thì thử nghĩ thêm một chút. Cách đây mấy trăm năm, ở một nơi rất xa, cũng có một nồi nếp y như thế đang sôi. Cũng làn khói ấy, cũng cái mùi ấy, cũng tiếng mái chèo gỗ cạo vòng quanh đáy nồi. Chỉ khác một điều. Nồi nếp đó nấu xong thì người ta không múc ra bát, mà đem trộn vào vôi để dán từng viên gạch lên một bức tường. Và bức tường ấy vẫn còn đứng cho tới hôm nay.

Câu chuyện gần đây