Dokkaebi, chú yêu tinh trong ống khói
Cái vung nồi cơm nhấc lên.
Không ai chạm vào nó. Trong bếp không có gió. Cái vung ấy đúc bằng gang, nặng trịch, dày như một viên ngói lớn, thế mà nó cứ tự nhấc lên khỏi miệng nồi, nhảy một cái, rồi rơi xuống. Không rơi ra ngoài. Rơi tọt vào trong lòng nồi.
Chị bếp đang ngồi thổi lửa quay đầu lại nhìn.
Nồi cơm thì đang sôi, nước gạo trào lên tận mép. Còn cái vung thì nằm gọn dưới đáy, ngập trong hơi nóng.
Chị xắn tay áo. Chị nghiêng người tới. Rồi chị thò tay vào cái nồi đang bốc khói ấy để mò cái vung ra.
Nóng quá. Chị rụt tay lại, phẩy phẩy mấy đầu ngón, hà hơi vào chúng, rồi thò tay vào lần nữa. Lần này chị móc trúng. Cái vung được lôi lên, đen nhẻm, nhỏ nước, và chị đặt nó lại lên miệng nồi cho ngay ngắn.
Chị quay đi được đúng ba bước.
Cái vung lại nhấc lên.
Giờ mới tới lúc nói xem ai làm chuyện đó.
Người Hàn Quốc gọi kẻ ấy là Dokkaebi. Trong những quyển sách chép chuyện xứ Triều Tiên từ hơn một trăm năm trước, tên chú còn được viết theo lối cũ là Tokgabi. Người ta kể rằng trong tất cả các loài yêu tinh của xứ ấy, chú là kẻ nghịch nhất.
Nhưng điều lạ nhất về chú không nằm ở chỗ chú nghịch. Nó nằm ở chỗ chú ở.
Chú không ở trong rừng. Không ở dưới gầm cầu. Không ở trên ngọn cây. Chú ở trong những đường ống khói đầy bồ hóng chạy ngang bên dưới sàn nhà, từ gian bếp ở đầu này cho tới cái lỗ khói ở đầu kia. Cái sàn ấm mà cả nhà mình từng nghe kể ấy, với chú chính là mái nhà.
Suốt ngày chú nằm trong đó. Giữa bồ hóng, giữa hơi nóng, giữa khói.
Chuyện kể rằng chú đen như đêm. Da chú và mắt chú đều không cháy được, nên lửa với chú cũng giống như nước với con cá. Chú lại chẳng có buồng phổi nào cả, cho nên khói nhiều đến mấy cũng không làm chú ho lấy một tiếng.
Chú không ưa nắng, cũng không ưa ngoài trời. Chưa từng có ai nhìn thấy chú ngoài phố lần nào. Không phải vì chú trốn giỏi. Là vì với chú, ngoài phố chẳng có gì vui bằng trong bếp.
Bây giờ hãy quay lại gian bếp đêm hôm ấy, vì đêm ấy còn dài.
Sau cái vung nồi là tới cái chạn bát.
Chạn treo ngay phía trên bếp lửa, trong đó xếp bát, xếp đĩa, xếp thìa. Đang lúc chị bếp cúi xuống nhặt củi thì cả cái chạn kêu lên lách cách lách cách, y như có ai đứng lọt thỏm trong đó mà nhảy chân sáo giữa đám bát đĩa.
Chị bếp bỏ củi xuống, đi tới, mở cánh chạn ra.
Bát nằm im. Đĩa nằm im. Thìa nằm im. Không cái nào lệch khỏi chỗ của nó.
Chị khép chạn lại.
Lách cách.
Rồi tới lượt mấy cái chày đập vải.
Chày đập vải là thứ các bà các chị trong nhà quý nhất, vì áo quần giặt xong phải đập cho thẳng thớm mới mặc được. Tối hôm ấy chúng biến sạch. Không cái nào còn nằm ở chỗ cũ. Người trong nhà lật tung mọi thứ lên tìm, tìm dưới chiếu, tìm sau cánh cửa, tìm trong xó bếp, mà chẳng thấy đâu. Giấu chày đập vải cũng là một trò chú mê, mê ngang với cái vung nồi.
Và ở trên đầu mọi người, trên mấy cây xà gỗ vắt ngang mái nhà, có tiếng chân chạy nhẹ bẫng từ đầu này sang đầu kia. Chạy tới đâu thì bụi và mạng nhện lả tả rơi xuống tới đó. Trò ấy chú thích lắm.
Trong một ngôi nhà như thế, lâu dần thành lệ. Hễ có chuyện gì kỳ quặc là người ta đổ hết cho Dokkaebi. Búi tóc trên đầu người cha mà vướng phải một cái lỗ trên vách, thì cũng tại chú chứ còn tại ai nữa.
Nhưng chỗ buồn cười nhất của cả câu chuyện lại nằm ở đây.
Cái kẻ đi xuyên qua lửa không hề hấn gì ấy, cái kẻ hít khói suốt ngày mà không ho ấy, lại sợ một cái trâm bạc.
Đúng như thế. Chỉ một mẩu bạc bé xíu, một cái trâm cài tóc thôi, là chú đã ngại. Chú cũng không ưa màu trắng, nên áo quần hồ bột trắng tinh phơi trong nhà là chú tránh xa. Màu đỏ thì chú cũng chẳng thích nốt.
Cho nên các bà các chị cứ việc cài trâm bạc lên tóc, cứ việc hồ áo cho thật trắng, rồi vừa làm vừa cười. Chuyện giữa hai bên giống một ván cờ hơn là một cuộc rượt đuổi. Người trong nhà không ai sợ chú cả. Chỉ có chú là sợ cái trâm.
Đêm hôm ấy, ván cờ kéo hơi dài.
Chị bếp đã dậy từ lúc trời còn tối mịt. Chị nhóm lửa, vo gạo, thổi cơm, dọn mâm, rồi lại nhóm lửa, rồi lại thổi. Cứ mỗi lần chị làm xong một việc thì trong bếp lại có một thứ gì đó kêu lên, rơi xuống, hoặc biến mất. Chị lại đứng dậy. Chị lại nhặt lên. Chị lại đi tìm.
Đến khuya, chồng bát của bữa tối vẫn còn chất cao bên cạnh bếp, mặt bàn vẫn chưa lau. Chị ngồi phịch xuống sàn, định nghỉ một lát rồi làm nốt.
Sàn vẫn còn ấm.
Chị gục đầu xuống hai cánh tay. Và chị ngủ mất.
Cả ngôi nhà im lặng lại.
Không còn tiếng lách cách trong chạn. Không còn tiếng chân chạy trên xà nhà. Không còn cái vung nào nhảy nữa.
Trò nghịch tối ấy đã đi quá đà. Nó làm chị bếp mệt tới mức ngủ gục ngay giữa đống việc chưa xong, mà một gian bếp có người ngủ gục thì chẳng còn ai để trêu.
Chị bếp tỉnh dậy khi trời vừa hửng.
Chồng bát bên cạnh bếp đã được rửa sạch bong, úp thành một chồng ngay ngắn. Mặt bàn thì đã lau xong, khô ráo, không còn một vệt.
Chị hỏi khắp nhà. Không ai nhận cả.
Người ta vẫn kể rằng chuyện ấy là chuyện thường tình của chú. Chú trêu người làm bếp cả đêm, nhưng hễ thấy người ta làm quá sức mà thiếp đi thì chú lặng lẽ làm nốt phần việc còn lại. Rửa bát. Lau bàn. Rồi luồn về đường khói dưới sàn, không một tiếng động.
Còn cái lỗ khói ở đầu kia ngôi nhà thì vẫn để ngỏ như mọi đêm, nhỏ và đen, thấp lè tè sát mặt đất. Đến một ngôi nhà gỗ cổ của Hàn Quốc, đó chính là thứ cả nhà nên tìm trước tiên, trước cả cái mái cong.
Còn trong bếp, cái vung gang nằm đúng chỗ của nó, ngay ngắn trên miệng nồi, im như thể chưa từng nhúc nhích bao giờ.