Đồng tiền Vạn Lịch
Ngày xưa, ở những bến chợ miền sông nước, người ta trả tiền bằng những đồng tiền đồng nhỏ mòn trơn. Trên mặt mỗi đồng tiền khắc bốn chữ nho mà mưa nắng đã ăn mờ gần hết. Cầm lên soi dưới nắng chợ, vẫn còn nhận ra hai chữ Vạn Lịch. Câu chuyện về đồng tiền Vạn Lịch là một trong những chuyện ông bà ta kể để lý giải cái tên ấy, và câu chuyện không chỉ nói về tiền, mà nói về lòng người.
Chuyện kể rằng, có một người lái buôn tên là Vạn Lịch. Ông ta giàu lớn, có đến gần một trăm chiếc thuyền buôn chạy khắp các dòng sông. Hàng hóa chất thành núi, bạc vàng chứa đầy kho. Tiếng giàu của Vạn Lịch vang khắp vùng, đến mức người ta cứ nghe tên là đã biết đây là bậc phú hộ không ai bì kịp.
Nhưng Vạn Lịch có một tật: ghen tuông. Ông ta lấy Mai Thị làm vợ, người con gái nết na hiền hậu, nhưng lại không tin vợ lấy một điều. Ông đi buôn xa thì thôi, cứ về nhà là xét nét từng li từng tí, nhìn vợ bằng cặp mắt nghi ngờ.
Rồi cái ngày định mệnh cũng đến.
Hôm đó, Vạn Lịch đang ngồi trên thuyền. Ngoài bến, Mai Thị thấy một người đánh giậm đang run lẩy bẩy vì rét, áo mỏng không đủ ấm, mặt tái mét như người sắp ngã. Mai Thị động lòng thương, cầm âu trầu bước ra, đưa cho người đó để ăn cho ấm người.
Vạn Lịch từ trong thuyền nhìn ra thấy vậy, cơn ghen bùng lên dữ dội. Ông ta gọi vợ vào, không chịu nghe một lời giải thích nào. Ông ta mắng nhiếc, xỉ vả nàng thậm tệ, rồi ném cho Mai Thị một thoi vàng, một thoi bạc, và đuổi đi.
Mai Thị không có chỗ nào để về. Nàng ngồi khóc bên bờ sông, một mình giữa trời chiều lạnh.
Người đánh giậm khi nãy thấy vậy, không đành lòng bỏ đi. Anh ta cũng nghèo, không có gì ngoài đôi tay và cái giậm tre. Nhưng thấy người đàn bà tội nghiệp một mình giữa đường, anh dừng lại hỏi han. Nghe câu chuyện, anh nói: Nếu chị không có chỗ nào đi, thì về nhà tôi. Tôi không có gì nhiều, nhưng không để chị chịu đói chịu rét một mình.
Hai người thành vợ chồng từ đó. Ngôi nhà nhỏ bên bờ sông, anh chồng ngày ngày chài lưới, Mai Thị chăm nuôi gà vịt. Nghèo nhưng yên ổn, không ai nghi ngờ ai.
Ba năm. Sông vẫn chảy, mùa vẫn đổi, hai người vẫn sống bên nhau không một lời than vãn.
Một hôm, anh chồng không cẩn thận làm rơi cái thoi vàng, thứ Mai Thị giữ từ ngày bị đuổi đi, xuống sông. Anh lặn mãi không tìm thấy, buồn lắm mà không biết làm sao. Khi kể lại với vợ, anh chợt nhớ ra và nói: Mà nói thật với chị, cái thoi vàng đó trông giống hệt mấy thứ tôi hay vớt được dưới sông lúc đánh cá. Tôi cứ tưởng là phế liệu, để ở góc nhà cả đống đấy.
Mai Thị nhìn vào đống thoi vàng góc nhà. Thoi nào cũng mang dấu riêng của nhà Vạn Lịch.
Nàng đứng lặng một lúc. Lâu lắm không nói gì.
Hóa ra thuyền của Vạn Lịch năm ấy gặp bão, đắm ngay khúc sông này. Chỉ riêng Vạn Lịch bơi được vào bờ, còn tài sản thì nằm lại dưới đáy nước từ bấy đến giờ, không ai hay.
Hai vợ chồng Mai Thị từ đó có của ăn của để. Họ dựng lại nhà cửa, mua ruộng vườn, cuộc sống dần sung túc. Nhưng câu chuyện không dừng ở đó.
Người chồng, chất phác và thật thà, một ngày ghé qua một ngôi đền vắng ở xa xóm. Hai bên sân đền có mấy pho tượng phỗng. Anh khẽ ẩy một pho, thế là tượng lăn kềnh từ trên bệ xuống đất, mà anh cũng chẳng nói với ai.
Đúng dịp đó, nhà vua bỗng đau bại một nửa người, lương y bó tay. Người ta lần ra cớ sự là pho tượng đổ trong ngôi đền vắng, nhưng hàng chục người xúm vào cũng không nâng nổi. Vua sai yết bảng, hứa trọng thưởng cho ai dựng được tượng lên. Người chồng tìm đến, vừa đặt tay vào, pho tượng đã đứng dậy. Vua khỏi bệnh, sai lấy vàng bạc ra thưởng, nhưng hai vợ chồng không nhận, chỉ xin một chân ngồi thu thuế tại bến sông.
Ngày tháng qua đi. Rồi một hôm, có chiếc thuyền buôn cũ kỹ cập bến. Người đứng trên thuyền gầy yếu, áo rách, mặt hốc hác. Đó là Vạn Lịch.
Từ ngày thuyền đắm mất hết, Vạn Lịch trắng tay. Ông ta lang thang buôn bán lặt vặt, qua ngày đoạn tháng trong cảnh nghèo túng. Chiếc thuyền cũ đó là tất cả những gì ông ta còn lại.
Mai Thị nhìn ra từ xa, nhận ra người đàn ông ấy. Nàng không nói gì ngay. Chờ cho thuyền vào bến làm thủ tục, nàng mới bước ra. Không kể đầu kể đuôi, không trách móc, không hét lên. Nàng chỉ đọc mấy câu vần, thong thả, như người kể chuyện cũ. Mỗi câu là một trang đời của chính ông ta: chuyện cái âu trầu, chuyện bị đuổi đi, chuyện thuyền đắm, chuyện tiền vàng dưới đáy sông.
Vạn Lịch nghe đến đâu, mặt tái đến đó. Ông ta nhận ra tất cả. Nhận ra người đàn bà đứng trước mặt chính là Mai Thị, vợ cũ ông ta đã đuổi đi vì một âu trầu. Nhận ra bao nhiêu năm tháng ông ta trắng tay, thì chính tài sản ông ta đã nuôi sống người vợ ấy và người đàn ông chài lưới tốt bụng. Và giờ đây, chính ông ta lại phải ghé vào cái bến nơi người khác làm quan, để xin cho qua.
Ông ta lặng đi, rồi không thấy đâu nữa.
Sau đó, Mai Thị thu lại chiếc thuyền và ít tài sản còn lại. Nàng làm đơn dâng lên nhà vua, xin được dùng số vàng bạc ấy đúc thành tiền để cấp phát cho dân nghèo những năm đói kém. Vua chuẩn y.
Và những đồng tiền đó, theo truyện kể, mang khắc hai chữ Vạn Lịch.
Tên của kẻ bạc tình, cuối cùng, lại được gắn với những đồng tiền phát cho dân nghèo.
Mỗi khi cầm đồng tiền cũ lên soi, cả nhà cứ thử nghĩ đến Mai Thị, người đàn bà đứng bên bến sông, không chọn thù hận, mà chọn để tiền ấy chảy vào tay những người cần nhất.